View Full Version : Huyền Thoại Arsenal
Bomber
17-02-2008, 01:48 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/vieira03_1024.jpg
Patrick Vieira - Đội trưởng của một thời hoàng kim
Tên đầy đủ: Patrick Vieira
Ngày sinh: 23-6-1976
Nơi sinh: Dakar – Senegal
Vị trí: tiền vệ trung tâm
Thông tin câu lạc bộ
Câu lạc bộ hiện tại: Internazionale
Đội trẻ:
1993-1994: AS Cannes
1995-1996: AS Cannes
Thi đấu chuyên nghiệp
Năm CLB Số lần thi đấu/ Số bàn thắng
1993-1995 AS Cannes 49 (2)
1995-1996 AC Milan 2 (0)
1996-2005 Arsenal 279 (29)
2005-2006 Juventus 38 (5)
2006-nay Internazionale
Đội tuyển quốc gia:
1997- hiện nay đá cho tuyển Pháp và ghi được 97 ( 6 ) bàn thắng.
Sự nghiệp ban đầu
Vieira sinh tại Cape Verdian – Senegal, gia đình chuyển tới Paris khi anh lên 8 tuổi, và cho tới mãi năm 2003 anh mới quay trở lại Senegal. Ban đầu Vieira chơi cho AS Cannes nơi anh xuất hiện lần đầu ở tuổi 17 và trở thành đội trưởng khi anh mới có 19 tuổi. Không lâu sau đó vào mùa hè năm 1995 anh đã được gã khổng lồ thành Milan mua mặc dù anh chủ yếu ngồi trên băng ghế dự bị và chỉ được thi đấu đúng hai trận.
Arsenal
Tháng 12-1996 vị HLV mới của Arsenal – Arsene Wenger đã đề nghị mua anh từ AC Milan. Chiều cao, sức tì và thể lực của Vieira đồng nghĩa với việc anh sẽ sớm thích nghi với lối đá của bóng đá Anh trong khi sự điềm tĩnh và kinh nghiệm thi đấu biến anh trở thành một phần không thể thiếu trong phong cách đá đẹp mắt của Giáo sư.
Đá cặp ở tuyến giữa với người đồng đội trong tuyển Pháp Emmanuel Petit, Vieira đã đoạt cú đúp giải Ngoại hạng và cúp FA năm 1998, mùa giải trọn vẹn đầu tiên của anh ở Arsenal và anh được gọi vào danh sách thi đấu của tuyển Pháp tại World Cup 1998.
Những năm đầu tiên ở Arsenal của Vieira đã bị ngáng trở nhiều bởi vấn đề kỷ luật – năm 2000-01, anh bị đuổi hai lần trong hai trận đấu liên tiếp mặc dù sau khi trở lại anh không bị lĩnh một chiếc thẻ nào trong 28 trận. Tổng cộng anh đã bị đuổi 12 lần trong sự nghiệp ( 9 lần khi đá ở Arsenal, 1 khi ở Juve, 1 ở đội tuyển QG và Internazionale).
Vieira lại tiếp tục cùng đội tuyển Pháp đạt chức vô địch Euro 2000 rồi sau đó là cú đúp với Arsenal năm 2002. Sau khi Tony Adams giải nghệ năm 2002, Vieira ( khi đó là đội phó ) đã trở thành đội trưởng và kể từ đó anh trở nên điềm tĩnh hơn rất nhiều. Mặc dù vắng mặt trong trong trận chung kết FA năm 2003 vì chấn thương, anh vẫn được nâng cao chiếc cúp cùng các đồng đội với vai trò đội trưởng trong ngày chia tay David Seaman.
Mùa giải 2003-2004, anh đã dẫn dắt Arsenal tạo nên một mùa giải lịch sử với những kỷ lục không thể phá vỡ ở giải Ngoại hạng với 49 trận bất bại và anh cũng là người ghi quả Penalty ấn định chiến thắng của Arsenal trong trận chung kết cúp FA năm 2005 sau khi hòa MU 0-0 trong 120 phút thi đấu chính thức. Tổng cộng Vieira đã chơi 407 trận cho Arsenal và ghi được 33 bàn thắng.
Anh quay trở lại Arsenal trong trận đấu chia tay Dennis Bergkamp ngày 22-7-2006 gặp Ajax.
Dù đã rời Arsenal Vieira vẫn luôn dành được sự yêu mến trong lòng các fan hâm mộ và có một tấm ảnh của anh đặt giữa 14 huyền thoại của Arsenal tại sân vận động mới Emirates.
Juventus
Sự tỏa sáng của Vieira trong màu áo Arsenal đã khiến các “ông lớn” phải để mắt đến, đầu tiên là sự tiếp cận của Manchester United. Trong suốt hai mùa giải 2003, 2004 Vieira đã liên hệ với ý định muốn chuyển đến chơi cho đại gia Real Madrid. Real Madrid đưa tin đề nghị trả Arsenal 23 triệu đô la để có được anh và phía Arsenal cũng đã miễn cưỡng chấp nhận. Tuy nhiên đến phút cuối sau khi đã suy nghĩ kỹ lưỡng Vieira quyết định ở lại với câu lạc bộ nơi anh đã thành danh.
Một năm sau đó, Vieira đã dứt áo ra đi. Arsenal chấp nhận cái giá 20 triệu Euro (tương đương với 13,7 triệu bảng) của gã khổng lồ Juventus. Vào 14-7-2005, Vieira đã đồng ý ký bản hợp đồng thời hạn năm năm với Juventus để đến chơi tại Seri A.
HLV của Juventus khi đó là Fabio Capello đã sử dụng Vieira ở khu vực giữa sân gồm có Emerson và Pavel Nedved. Anh đã giúp Juventus có được một khởi đầu tốt nhất ở giải đấu Seri A. Mặc cho việc thi đấu bị ảnh hưởng bởi chấn thương háng dai dẳng và mâu thuẫn trên sân tập với người đồng đội Zlatan Ibrahimovic, Vieira vẫn giúp Juventus giữ được chiếc cúp vô địch Ý ở lại thêm một năm nữa. Và trong vòng quay của số phận, Vieira đã trở lại Highbury để đối đầu với Arsenal trong trận tứ kết Champions League. Kết quả Arsenal thắng 2-0. Vieira phải nhận một chiếc thẻ vàng ở trận lượt đi tại Highbury và không được đá trong trận lượt về vào ngày 5-4-2006.
Rời khỏi Juventus
Tuy nhiên mùa giải 2005-2006 đã trở thành một mùa giải trắng tay đối với Juventus sau khi sự vụ được khám phá ra rằng họ bị dính líu vào vụ Scandal dàn xếp tỉ số. Liên đoàn bóng đá Italia đã quyết định: Juventus bị giáng xuống chơi ở Seri B với số điểm -17 và kéo theo sự ra đi của hàng loạt ngôi sao. Sau khi xem xét đề nghị của một số câu lạc bộ trong đó có cả Arsenal và Manchester United vào 2-8-2006 Patrick Vieira đã ký bản hợp đồng thời hạn 4 năm với Internazionale với giá chuyển nhượng là 9,5 triệu bảng ít hơn cái giá 20 triệu bảng mà Juventus đã bỏ ra để mua anh từ Arsenal.
Sự nghiệp thi đấu quốc tế
Trong khi còn ở Arsenal, Vieira đã được thi đấu lần đầu tiên cho đội tuyển Pháp trong trận gặp Hà Lan năm 1997. Anh cũng có tên trong danh sách đội tuyển Pháp tham dự WC 98. Anh chính là người thay thế cho Youri Djorkaeff trong trận chung kết gặp Brazil và đã tạo cơ hội cho người đồng đội ở Arsenal là Petit ghi bàn thắng thứ 3 trong thắng lợi 3-0 của Pháp.Cùng với các đồng đội anh nhận được Bắc Đẩu Bội Tinh– huân chuơng cao quý nhất của nước Pháp năm 1998.
Sau đó anh là lựa chọn đầu tiên cho vị trí trung vệ trong thắng lợi của Pháp tại Euro 2000 khi mà họ đã đánh bại Italia trong trận chung kết nảy lửa. Anh cũng chơi 3 trận tại World Cup 2002, giải mà Pháp đã bị loại ngay từ vòng đấu bảng. Anh đã bị chấn thương và không thể thi đấu trong trận gặp Hi Lạp tại Euro 2004.
Vieira đảm nhận băng đội trưởng đội tuyển Pháp sau khi Zinedine Zidane tuyên bố nghỉ thi đấu quốc tế nhưng đó là cách để thuyết phục Zidane quay trở lại trong chiến dịch vòng loại World Cup 2006. Vào 5-8-2006 anh lại được chỉ định chức vụ đội trưởng đội Pháp.
Vào sinh nhật 23-6-2006 Vieira đã đeo băng đội trưởng trong trận đấu vắng mặt Zidane, cũng cùng sinh nhật vào ngày đó, và anh đã ghi bàn thắng đầu tiên khi Pháp đánh bại Togo 2-0 tại vòng bảng World Cup 2006. Để rồi chính anh là người tạo cơ hội cho Henry dứt điểm ấn định tỉ số. Chiến thắng này đã giúp Pháp lọt vào vòng đấu loại trực tiếp xếp thứ 2 sau Thụy Sĩ. Ở vòng đấu loại trực tiếp 1/16 Vieira ghi bàn thắng thứ hai trong chiến thắng 3-1 trước Tây Ban Nha. Pháp đã dành chiến thắng xứng đáng 1-0 trước Brazil ở tứ kết trong một trận đấu đáng nhớ rồi sau đó là trước Bồ Đào Nha cũng với tỉ số đó tại bán kết để đưa họ vào trận chung kết gặp Italia. Đã từng chơi rất nhiều trận chung kết, lần này anh được ra sân ngay từ đầu nhưng phải thay ra vào hiệp hai vì chấn thương. Kết quả cuối cùng: Italia giành chiến thắng 5-3 trong loạt đá Penalty đầy may rủi sau 120 phút thi đấu chính thức với kết quả hòa 1-1. Cho đến tháng 9-2006, Vieira đã khoác áo đội tuyển QG tổng cộng 97 lần và ghi được 6 bàn thắng.
Danh hiệu
Với đội tuyển quốc gia:
· FIFA World Cup
o Appearances: 1998, 2002, 2006.
o Winner: World Cup 1998
o Runner Up: World Cup 2006
· European Championship
o Appearances: 2000, 2004.
o Winner: Euro 2000
Với Arsenal:
· English Premiership: 1997-98, 2001-02, 2003-04.
· English FA Cup: 1998, 2002, 2003, 2005.
· Carlsberg Player of the Year : 2004
Với Juventus
· Serie A Scudetto: 2005-06 ( nhưng sau đó đã bị tước do Juventus bị phát hiện có dính líu đến vụ scandal dàn xếp tỉ số).
Một số danh hiệu khác:
Được chọn vào top 100 cầu thủ của FIFA: 2004
Bắc Đẩu Bội Tinh – huân chương cao quý nhất của nước Pháp năm 1998.
Bomber
17-02-2008, 01:51 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/ianwright.jpg
Ian Wright - Tiền đạo vĩ đại
Tên đầy đủ: Ian Edward Wright
Ngày sinh: 3/11/63
Nơi sinh: Woolwich, Anh
Vị trí: Trung phong
Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Trận (bàn thắng)
1984-1985 Greenwich Borough
1985-1991 Crystal Palace 228 (89)
1991-1998 Arsenal 288 (185)
1998-1999 West Ham United 22 (9)
1999-2000 Nottingham Forest (cho mượn) 10 (5)
1999-2000 Celtic 8 (3)
2000 Burnley 15 (4)
Tuyển quốc gia
1991-1998 Anh 31 (9)
* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.
Ian Edward Wright, Tước hiệu Hiệp sĩ- sinh ngày 3/11/1963 tại Woolwich, London trước đây là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và bây giờ là người nổi tiếng trên sóng truyền hình và truyền thanh.
Sự nghiệp cầu thủ
Ian Wright trở thành cầu thủ chuyên nghiệp rất muộn. Sau khi bị Millwall và Brighton từ chối, anh chơi bóng ở giải nghiệp dư với những người lao động, thợ làm thạch cao. May mắn là ở Greenwich Borough, anh đã được để ý bởi người tìm kiếm tài năng Peter Prentice của Crystal Palace. Anh kí hợp đồng chuyên nghiệp dài hạn với Palace năm 1985 ở tuổi 22. Tổng cộng, “Satch” ( biệt danh của anh, sau biệt danh của Louis Armstrong) đã có 6 mùa giải ở Palace và vào năm 2005, anh được bầu chọn trong lễ Bách Niên của câu lạc bộ. Năm 2006, anh lại được vinh danh là “Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ” trong lịch sử Palace.
Anh nhanh chóng được chú ý đến trong mùa giải đầu tiên ở câu lạc bộ, ghi 9 bàn thắng để trở thành chân sút số 2 của Palace sau Phil Barber. Khi Mark Bright đến Palace trong năm tiếp theo, đã hình thành cặp tiền đạo hết sức thành công mà những bàn thắng của họ đã đưa câu lạc bộ vượt qua trận playoff năm 1989.
Wright được gọi vào đội B tuyển Anh vào tháng 12/1989 nhưng hai lần gãy xương ống chân đã làm giảm ảnh hưởng của anh ở Giải Hạng nhất. Ngoài ra, sau khi hồi phục sau chấn thương anh trở thành '”siêu dự bị'”. Trong trận chung kết FA Cup năm 90 với Manchester United, anh cân bằng tỉ số cho Palace chỉ vài phút sau khi được tung vào sân ở hiệp phụ. Cuối cùng tỉ số là 3-3, nhưng Palace thất bại 1-0 trong trận đá lại.
Mùa giải tiếp theo anh gặt hái được danh hiệu quốc tế đầu tiên, và đạt tới mốc 100 bàn thắng cho Crystal Palace. Anh lập cú đúp trong trận thắng Everton để đoạt Zenith Data Systems Cup tại Wembley. Wright trở nên nổi tiếng với khả năng săn bàn của mình, điển hình là màn trình diễn khi anh ghi 3 bàn thắng chỉ trong 18 phút tại trận áp chót của mùa bóng 1990-91 với Wimbledon.
Anh bắt đầu thi đấu cho Arsenal vào năm 1991 với phí chuyển nhượng £2.5 triệu, lúc đó là kỉ lục ở câu lạc bộ. Anh ghi bàn ngay trong trận ra mắt gặp Leicester City tại League Cup, và sau đó là 3 bàn thắng trong trận ra mắt ở League gặp Southampton. Anh đoạt danh hiệu Chiếc giày vàng trong mùa bóng đầu tiên và trở thành chân sút hàng đầu ở câu lạc bộ sau 6 mùa bóng. Anh là một phần quan trọng trong những thành công của câu lạc bộ trong những năm 90 của thế kỉ trước, đoạt cú đúp FA Cup và League Cup năm 1993; anh ghi bàn trong trận chung kết FA Cup và cả trong trận đá lại. Wright cũng giúp Arsenal đoạt European Cup Winners'Cup (cúp C3 cũ) năm 1994, mặc dù anh đã bị treo giò trong trận chung kết mà Arsenal đánh bại Parma 1-0.
Wright ghi bàn ở mọi vòng đấu của Arsenal ở Winners' Cup năm1995, thế nhưng thời gian cầm quân của Bruce Rioch đã mở ra một thời kì khó khăn của anh, hai lần anh đòi ra đi (nhưng sau đó lại thôi). Tuy nhiên, với sự góp mặt của Dennis Bergkamp, Wright đã có cơ hội là mộtphần trong cặp tiền đạo vô cùng hiệu quả.
Khi Arsène Wenger đến với Arsenal vào 9/1996, Wright đã gần 33 tuổi. Bất chấp tuổi tác, anh vẫn thường xuyên ghi bàn, và vào ngày 13/9/1997 anh đã vượt qua kỉ lục ghi bàn cho câu lạc bộ của Cliff Bastin bằng ba bàn thắng trong trận gặp Bolton Wanderers (Kỉ lục này vừa bị Thierry Henry vượt qua vào tháng 10/2005). Hai tháng sau đó anh bị một chấn thương dây chằng rất trầm trọng. Chấn thương này đã loại anh ra khỏi cuộc chạy đua dành cú đúp của câu lạc bộ; Wright có tên trong danh sách dự bị ở trận chung kết với Newcastle United nhưng anh không được thi đấu.
Mùa hè năm 1998, Wright chuyển tới West Ham United. Anh chơi 9 tháng cho Hammers nhưng không bao giờ đạt được phong độ đỉnh cao như khi còn chơi cho Arsenal. Anh cũng có những cuộc phiêu lưu ngắn ngủi ở Nottingham Forest, Celtic, và Burnley (nơi anh đã đưa câu lạc bộ thăng hạng Nhất) trước khi giải nghệ năm 2000. Khi ở Burnley anh đã ghi một trong những bàn thắng vĩ đại nhất của mình trong trận gặp Notts County. Thiếu tiền đạo này Burnley đã không thể tiếp tục thăng hạng vào mùa giải sau.
Wright được thi đấu cho tuyển Anh từ khi còn là cầu thủ của Palace , năm 1991, thế nhưng anh lại không được chơi tại Euro 92. Phong độ của Wright ở tuyển Anh chẳng bao giờ có kết quả tốt như khi anh chơi cho Arsenal. Mặc dù anh đã ghi bàn thắng quyết định vào lưới Balan ở vòng loại World Cup 1994, nhưng tuyển Anh của Graham Taylor vẫn không thể vượt qua vòng loại. Wright chỉ là cầu thủ chầu rìa dưới thời Terry Venables, nhưng lại được Glenn Hoddle gọi lại và những bàn thắng của anh đã giúp tuyển Anh vô địch Tournoi de France năm 1997 và vượt qua vòng loại World Cup 1998. Anh không được tham gia vòng chung kết, tệ hơn nữa, một chấn thương trầm trọng ở dây chằng đã loại anh ra khỏi quá trình đoạt cú đúp của câu lạc bộ Arsenal. Wright đã được vinh danh ở English Football Hall of Fame năm 2005 với những đóng góp của anh cho bóng đá Anh.
Sự nghiệp thông tin đại chúng
Từ khi từ giã bóng đá, anh trở nên nổi tiếng ở lĩnh vực thông tin đại chúng, xuất hiện với vai trò bình luận viên trong chương trình Match of the Day. Anh cũng đã thử sức trong vai trò dẫn chương trình, những chương trình trò chuyện của chính mình, Friday Night's All Wright, được bắt đầu năm 1998 khi Wright còn thi đấu. Sau đó anh được dẫn những chương trình lớn như The National Lottery Wright Around the World, Friends Like These, chương trình phát thanh Wright & Bright (với người đồng đội Mark Bright), Guinness World Records và What Kids Really Think. Anh được tiếp quản vai trò tổ trưởng từ David Seaman vào mùa thu năm 2004 trong chương trình trò chơi của đài BBC là They Think It's All Over.
Anh đang là bình luận viên của đài BBC trong chương trình Match of the Day trong đó có cả 2006 Fifa World Cup Coverage.
Năm 2006 Ian Wright xuất hiện trong chương trình Friday Night Project của Channel 4, chương trình của những người nổi tiếng trong cả đêm.
Wright còn là người tài trợ cho chương trình African-Caribbean Leukaemia Trust. Anh đã được trao giải thưởng MBE năm 2000 vì những đóng góp cho bóng đá.
Wright có 5 đứa con, 2 trong số đó là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp; đầu tiên là Shaun Wright-Phillips đang chơi cho Chelsea và là tuyển thủ Anh, trong khi đó Bradley Wright-Phillips hiện đang chơi cho Southampton. Người con út mới 19 tuổi, Brett Wright đang phấn đấu trong đội hình 2 của Reading FC.
Ian là cổ động viên nhiệt thành của Millwall - câu lạc bộ đầu tiên của anh ở địa phương. Thần tượng của anh là Barry Kitchener, Dave Mehmet và John Seasman.
Danh hiệu
Cá nhân
Tước hiệu Hiệp sĩ (MBE) (2002)
Vinh danh ở English Football Hall of Fame (2005)
Crystal Palace
English Second Division (cũ) playoffs winner (1988/89)
Á quân FA Cup (1990)
Vô địch ZDS Cup (1991)
Chiếc giày vàng (đứng đầu danh sách ghi bàn English First Division Championship – Giải hạng nhất Anh (cũ) (1991-92)
Đứng đầu danh sách ghi bàn cho Crystal Palace sau chiến tranh với 117 bàn. Anh đứng thứ 3 trong lịch sử.
Arsenal
Chiếc giày vàng (cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất English First Division Championship (cũ) (1991-92)
Vô địch FA Cup (1993, 1998)
Vô địch Winners' Cup (1994). Á quân (1995)
Vô địch League Cup (1993)
Vô địch FA Premiership (1997-98)
Wright là chân sút đứng thứ 2 trong lịch sử Arsenal, với 185 bàn thắng trong 288 trận đã đấu; anh đứng đầu kỉ lục ghi bàn từ 13/9/1997 cho tới 18/10/ 2005, khi bị Thierry Henry vượt qua.
Tại đội tuyển Anh
33 lần khoác áo, 9 bàn thắng.
Trận ra mắt: 6/2/1991 gặp Cameroon tại sân Wembley.
Trận cuối cùng: 18/11/1998 gặp Cộng hoà Czech tại sân Wembl
Bomber
17-02-2008, 01:52 PM
Dennis Bergkamp - Một huyền thoại của lối đá đẹp
Tên đầy đủ: Dennis Nicolas Bergkamp
Giờ đây tên anh đã không còn có trong danh sách những cầu thủ của Arsenal nữa. Anh đã giã từ sự nghiệp thi đấu của mình trong một bầu không khí ấm áp tình yêu dâng trào cảm xúc của hơn 54.000 cổ động viên trên sân Emirates, của ban huấn luyện Arsenal và của hàng triệu người yêu mến anh trên khắp thế giới.
Chia tay anh, người ta sẽ còn nhắc đến anh như một huyền thoại của Highbury. Là người dường như gắn bó lâu đời nhất với Arsenal (anh đến trước cả vị HLV đáng kính Arsene Wenger), cái tên anh gắn liền với Arsenal, gắn liền với một thứ bóng đá vị nghệ thuật. Nếu như người ta nói, nhân loại chỉ có một Vincent van Gogh, thì trong thế giới bóng đá, cái tên anh cũng sẽ không thể lẫn được vào đâu giữa muôn vàn tinh tú.
Anh đã cùng Arenal vượt qua bao thăng trầm để có được ngày hôm nay. Ngôi nhà Arsenal sẽ lưu danh anh như một huyền thoại. Anh là Dennis Bergkamp…
1.Họ và tên đầy đủ: Dennis Nicolas Bergkamp
Tên anh được lấy theo Denis Law, huyền thoại bóng đá người Scotland mà cả gia đình anh ngưỡng mộ. Khi đăng ký khai sinh, người ta đã không chấp nhận chữ Denis vì lý do khó đánh vần, nên cha anh đã phải thêm vào 1 chữ n!
2.Ngày sinh: 15/5/1969
Tại Amsterdam, Hà Lan.
3.Cao: 1m83
4.Nặng: 78kg
5.Vị trí : Tiền đạo
6.Những đội bóng đã từng thi đấu: Ajax, Inter Milan và Arsenal
7.Gia nhập Arsenal: 3/7/1995 với giá £7,500,000.
8. Tổng hợp thành tích:
-Số bàn thắng tính tại giải VĐQG:
Ajax: Thi đấu 185 trận ghi được 103 bàn thắng
Mùa giải Trận đấu Bàn thắng Giải đấu
1986-1987 14 2 (Eredivisie 1)
1987-1988 25 5 (Eredivisie 1)
1988-1989 30 13 (Eredivisie 1)
1989-1990 25 8 (Eredivisie 1)
1990-1991 33 25 (Eredivisie 1)
1991-1992 30 24 (Eredivisie 1)
1992-1993 28 26 (Eredivisie 1)
Inter Milan: Thi đấu 52 trận ghi được 16 bàn thắng
1993-1994 Played 31 Scored 8 goals (Serie A)
1994-1995 Played 21 Scored 3 goals (Serie A)
Arsenal: Thi đấu 251+49 trận ghi được 85 bàn thắng( tính đến thời điểm 5/11/2005)
1995-1996 Played 33 Scored 11 goals (Premiership)
1996-1997 Played 29 Scored 12 goals (Premiership)
1997-1998 Played 28 Scored 16 goals (Premiership)
1998-1999 Played 29 Scored 12 goals (Premiership)
1999-2000 Played 28 Scored 6 goals (Premiership)
2000-2001 Played 25 Scored 3 goals (Premiership)
2001-2002 Played 33 Scored 9 goals (Premiership)
2002-2003 Played 29 Scored 4 goals ((Premiership)
2003-2004 Played 28 Scored 4 goals (Premiership)
2004-2005 Played 29 Scored 8 goals (Premiership)
Tại Ajax anh có được 2 chiếc cup Hà Lan, 1 European Cup Winners Cup, 1 UEFA Cup, 2 lần trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trong năm và 1 lần dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu năm 1993.
Với Inter anh dành được 1 chiếc cup Uefa năm 1994.
Và tại Arsenal 3 lần dành chức vô địch PL, 4 lần dành FA Cup, Cầu thủ xuất sắc nhất của năm và ghi được nhiều bàn thắng tuyệt mĩ.
Sự nghiệp thi đấu
Có lẽ viết về Bergy (tên thân mật của anh) đã có rất nhiều những bài báo và nhiều phong cách khác nhau. Trong quá khứ Arsenal đã luôn tự hào mà thốt lên rằng:"Chúng tôi có Dennis Bergkamp" và bây giờ anh đã từ giã câu lạc bộ sau khi chơi trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp thi đấu của mình trên sân vận động mới Emirates. 25 năm trong sự nghiệp anh đã cống hiến cho bóng đá những bàn thắng đẹp nhất lịch sử. Trưởng thành từ lò đào tạo của Ajax và gắn bó 7 năm với câu lạc bộ, sau đó anh chuyển sang chơi cho Inter từ 1993 đến 1995. Và từ 1995 đến 2006 anh khoác trên mình chiếc áo đỏ trắng của The Gunners, ở nơi đây anh trở thành một trong những huyền thoại vĩ đại của câu lạc bộ.
Sự nghiệp trước khi đến với Arsenal
Dennis Bergkamp gia nhập Ajax khi anh lên 12 tuổi , anh đã trưởng thành tại đây và trận đấu đầu tiên anh được chơi tại đội hình chính của Ajax là năm 1986 ở tuổi 17 trong trận gặp Roda. Một điều đặc biệt là tài năng của Bergkamp ở đội trẻ Ajax đã được phát hiện bởi Johan Cruyff, và chính ông này đã gạt bỏ mọi chỉ trích để quyết đưa anh vào sân trong trận đấu đó. Trong 7 năm gắn bó Dennis đã giúp Ajax dành Cup C2 năm 1987, VĐQG 1990 và UEFA Cup năm 1992.
Tại Ajax, Bergkamp đã từng 3 năm liền là Vua phá lưới tại giải VĐQG, đó là vào các năm 1991, 1992, 1993. Anh được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất Hà Lan năm 1992, 1993.
Cũng trong thời gian đó, lần đầu tiên Bergkamp được khoác áo đội tuyển quốc gia là tại trận đấu với Italia năm 1990, tiếp theo là tham dự Euro cùng đội tuyển Hà Lan năm 1992. Trong trận đấu ở vòng bán kết Hà Lan đã thất bại, nhưng những ấn tượng anh để lại đã làm cho BHL Inter Milan phải bỏ ra khoản tiền 12 triệu bảng để có đuợc anh. Và tại trong khoảng thời gian ngắn ngủi 2 năm ở Milan anh đã cùng Inter Milan dành chức vô địch UEFA Cup năm 1994. Bergkamp đã nói rằng khoảng thời gian ở Italia mới thực sự ''giúp tôi thực sự là một cầu thủ bóng đá''. Và Tại Serie A, trong màu áo Inter Milan, Bergkamp đã ghi được 11 bàn thắng trong 52 trận.
Đội tuyển Hà Lan của Bergkamp lọt vào đến vòng tứ kết World Cup 1994 nhưng lại chịu thất bại 3-2 trước Brazil.
Bomber
17-02-2008, 01:53 PM
Những tháng ngày hạnh phúc tại Arsenal
Khoảng thời gian ở Italia là những tháng ngày không mấy hạnh phúc và chuỗi ngày đó cũng khép lại khi anh được Bruce Rioch đưa về với sân Highbury của Arsenal với giá 7.5 triệu bảng ngày 3/7/1995. Và từ đây một huyền thoại mới của câu lạc bộ ra đời....
Arsenal đã thổi một luồng sinh khí mới vào Dennis Bergkamp. Nhưng tại sao lại là Arsenal?
"Tôi đã quyết định rời Italia và đội bóng đầu tiên tôi muốn tới đó chính là Arsenal. Họ là một đội bóng đoàn kết và đó là những gì tôi muốn, đó là nền tảng để cho bạn đứng vững trước khi bạn cố gắng làm một việc gì đó. Mọi lạ lẫm cũng qua tại câu lạc bộ mới. Tôi nghĩ rằng đây là công việc của mình và tôi không biết gì về một Arsenal "buồn chán" tại thời điểm đó.” Chủ tịch Inter, Massimo Moratti đã từng gọi điện cho Dennis và nói rằng:"Họ (Arsenal) sẽ thật là may mắn nếu cậu ghi được 10 bàn thắng cho họ ở mùa giải này".
Lúc đầu những cái title to tướng được đăng lên khi mà đã 7 trận mà Dennis không ghi bàn. Họ nói Arsenal đã "liều lĩnh" khi mua Dennis. Nhưng rồi chuyện gì đến cũng phải đến. Dennis có bàn thắng đầu tiên (anh ghi 2 bàn) cho Arsenal trong trận thắng 4-2 trước Southampton tại Highbury và trái bóng đã bắt đầu lăn....
"Bạn có thể cho rằng tôi là một ngôi sao tồi khi so sánh với những gì trước đó. Phải mất một thời gian để có thể thích nghi với những thay đổi khi chuyển về từ Inter. Nhưng tôi thích điều đó và bàn thắng đầu tiên đó đã chấm dứt mọi nghi hoặc.
Tại Euro 96 Hà Lan lại gây thất vọng khi để thua Anh 4-1. Bergkamp buồn bã rời sân.
Có anh trong đội hình thi đấu là một điều quan trọng của câu lạc bộ nhưng ở những trận đấu tại Châu Âu chứng sợ máy bay đã ngăn cản anh có thể tham dự những trận đấu đó. Và cái biệt danh "Người Hà Lan không bay" cũng xuất phát từ đó.
Năm thứ hai Bergkamp có mặt tại Arsenal, Wenger đến và trở thành người thầy vĩ đại của các cầu thủ Arsenal trong đó có Dennis. Wenger đã làm người ta quên đi cái biệt danh "Arsenal nhàm chán" mà người ta gắn cho họ.
"Tôi cảm thấy mình có một chút đóng góp gì đó vào lối chơi tấn công của Arsenal nhưng sau này còn nhiều điều phải học hỏi nữa. Wenger đã cho tôi thấy điều đó khi ông mang về Patrick Vieira, Emmanuel Petit, Marc Overmars thế hệ những cầu thủ trụ cột nâng tầm cao mới cho Arsenal sau này”.
Bàn thắng cứ nối tiếp bàn thắng và Dennis trở thành 1 trong 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất mọi thời đại cho câu lạc bộ.
Bergkamp đã có được tất cả 120 bàn thắng trong 423 trận đấu. Anh có được 5 DVD trong sự nghiệp của mình. Hery đã nói:"Khi Bergkamp ghi bàn thì đó không phải là những bàn thắng thông thường mà nó được gắn nhãn hiệu của riêng anh ấy-nhãn hiệu bàn thắng mang tên Dennis Bergkamp".
Mùa giải 1997-1998 đánh dấu thời điểm đỉnh cao nhất trong sự nghiệp của Bergkamp: số bàn thắng và trận thi đấu mỗi mùa giải. Thực tế: tỉ lệ là 0.29 bàn/ trận cao hơn khi anh thi đấu cho Inter 0.21 bàn/ trận và thấp hơn khi ở Ajax 0.56 bàn/trận.
Anh lập hattrick trong trận hòa 3-3 với Leicester. Anh cùng Arsenal có được hai danh hiệu lớn là Vô địch Premierships và cup FA năm 1998.
Khi bắt đầu mùa giải HLV Wenger đã nói:"Bạn không cho rằng cậu ấy lầ cầu thủ xuất sắc nhất thế giới tại thời điểm này? Nếu bạn cho rằng có một người nào đó chơi tốt hơn cậu ấy thì có nghĩa là đã không xem cậu ấy thi đấu." Với 22 bàn thắng ghi được chiếc áo số 10 đã vượt qua tất cả để dành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Premiership năm đó, anh được xếp thứ 3 trong bảng xếp những cầu thủ xuất sắc nhất của năm do FIFA bình chọn. Và tên anh đã được những cổ động viên trìu mến viết trong bài hát của câu lạc bộ " Walking in a Bergkamp Wonderland".
Tại World Cup 1998 Bergkamp đã ghi một bàn thắng tuyệt đẹp nhưng cũng không thể giúp Hà Lan đi tiếp vào chung kết.
Sau đó Bergkamp tiếp tục cùng Arsenal chiến đấu tại các giải đấu mặc dù họ chỉ dành ngôi vị Á quân 2 năm tiếp sau đó.
The Gunner tiến được tới vòng chung kết cup UEFA năm 2000 nhưng sau 90 phút chính thức họ để hòa 0-0 và chịu thất bại 4-1 trên chấm phạt đền trước Galatasaray của Thổ Nhĩ Kì.
Bergkamp kết thúc sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình sau Euro 2000. Ghi được 37 bàn thắng cho đội tuyển trong 79 lần có mặt, anh gĩư một kỉ lục của đội tuyển Hà Lan.
Anh đã ghi được Bàn thắng đẹp nhất PL năm 2002. Và cũng trong năm đó Arsenal vô địch PL và dành FA cup.
Năm 2003 anh lại cùng Arsenal dành FA cup một lần nữa và là một phần trong chuỗi trận bất bại lịch sử năm 2004 của Arsenal.
Mùa giải 2005-2006 mùa giải cuối cùng của anh tại Arsenal, đã 36 tuổi, anh không được ra sân thường xuyên nhưng lại ghi những bàn thắng quyết định cho câu lạc bộ. Bàn thắng của anh trong trận thắng West Brom làm người ta nhớ đến một Bergkamp của thời đỉnh cao, nó vẫn đuợc đóng dấu nhãn hiệu Dennis Bergkamp.
Wenger đã nói:"Anh ấy là một cầu thủ của sự thông minh và đẳng cấp. Đẳng cấp thể hiện ở cách bạn khống chế bóng nhưng sự thông minh giúp cho bạn sử dụng những kĩ thuật đó vào trận đấu. Những gì anh ấy đã làm là chơi bắng trí óc và sự tưởng tượng". Anh trở thành người đồng đội được yêu mến nhất tại Highbury. Anh đã cùng Henry phá vỡ những kỉ lục của quá khứ.
Mùa bóng 2005-2006. Trận chung kết trong mơ lần đầu tiên của Arsenal đến với biết bao nỗ lực của cả một tập thể đoàn kết. Bergkamp cũng đến. Anh đã phải chạy ôtô suốt một chặng đường dài sang tận Paris để có thể chứng kiến đội mình thi đấu. Nhưng rồi họ lại để tuột mất cơ hội đó vào tay Barca...Một kết cục đau đớn...
Nhưng dù không có được cup C1, tất cả những kỉ niệm không thể quên được tại Arsenal nơi mà anh đã gắn bó 11 năm còn bội phần quý giá hơn cup C1.
Giây phút chia tay
Ngày 21/7 sân vận động Emirates trị giá 390 triệu bảng mở cửa trước hết để chào đón những cổ động viên đến với sân đấu mới của đội chủ nhà và quan trọng hơn là để nói lời tạm biệt với một huyền thoại - Dennis Bergkamp.
Họ ca vang "Walking on the Bergkamp Wonderland". Những guơng mặt huyền thoại một thời của cả Arsenal và Ajax cùng góp mặt. Họ chơi bóng và cùng gửi lời chào tới anh.
Bergkamp không có ý định trở thành một người quản lí hay HLV bóng đá. Anh hạnh phúc khi giã từ sân cỏ. Với 37 triệu bảng có trong ngân hàng anh sẽ tận hưởng cuộc sống bên gia đình hạnh phúc của mình, với người vợ xinh đẹp và 3 đứa con ngoan.
"Thật khó để có thể từ bỏ tất cả nhưng có những điều cần thiết còn cần phải làm. Tôi vẫn sẽ theo dõi từng bước đi của Arsenal. Bóng đá đã gắn với cuộc sống của tôi 25 năm và có thể một lúc nào đó tôi sẽ trở lại làm một điều gì đó cho bóng đá".
Chúng ta cùng gửi lời chúc đến anh một huyền thoại thật sự của Arsenal. Anh sẽ mãi lưu danh trong câu lạc bộ và trong trái tim nhưng người hâm mộ.
Bomber
17-02-2008, 01:54 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124676_srwinterburn150.jpg
Nigel Winterburn - Thành viên của bộ tứ huyền thoại
Họ và tên: Nigel Winterburn
Sinh: 1963-12-11 tại Arley Warwickshire, Anh quốc
Vị trí: Hậu vệ cánh trái
Câu lạc bộ cũ
Năm CLB Trận ( Số bàn thắng)
1981-1982 Birmingham City 0 (0)
1982-1983 Oxford United 0 (0)
1983-1987 Wimbledon 165 (8)
1987-2000 Arsenal 440 (8)
2000-2003 West Ham United 82 (1)
Tại đội tuyển quốc gia
1990–1991 Anh B 3(0)
1990–1993 Anh 2 (0)
Nigel Winterburn, một cầu thủ bóng đá người Anh, là một trong bộ tứ vệ huyền thoại cuối thập kỷ 80 và trong thập kỷ 90 của Arsenal. Hiện nay ông đã giải nghệ.
Đá hậu vệ trái, Winterburn bắt đầu sự nghiệp chơi bóng của mình tại Clb Birmingham City. Mặc dù đã từng được gọi vào đội trẻ của tuyển Anh, nhưng ông chưa từng được đưa vào đội hình chính thức tại Clb. Ông chuyển sang chơi cho Clb Oxford United, sau đó vào năm 1983, ông được Dave Bassett đưa về gia nhập Wimbledon theo hình thức chuyển nhượng tự do, đội bóng này vẫn đang tiếp tục những bước tiến vững chắc trên con đường thăng hạng sau khi đạt được những thành công từ giải non-league (giải phong trào) 6 năm trước. Winterburn được xem là nguồn sức mạnh tinh thần rất lớn của Wimbledon và ông cũng dành được những danh hiệu ở đội U21 Anh.
Winterburn là thành viên năng nổ trong đội hình tiêu biểu đã dành quyền lên chơi ở giải hạng Nhất năm 1986. Đội hình này gồm có những cầu thủ giàu kinh nghiệm như John Fashanu và Lawrie Sanchez. Trong mùa giải đầu tiên của họ ở giải đấu danh giá, họ đã về đích ở vị trí nửa trên của bảng xếp hạng, vào đến tứ kết cúp FA, và chỉ chịu thua Tottenham Hotspur, đội đã vào chung kết.
Trong 4 mùa giải chơi tại sân Plough Lane, Winterburn đã từng được các cổ động viên bầu cho danh hiệu cầu thủ của năm, thành tích tuyệt vời của ông đã khiến cho huấn luyện viên của Arsenal, George Graham – người đang tìm kiếm cầu thủ có thể thay thế lâu dài cho đội trưởng Kenny Sansom – đặc biệt quan tâm.
Vào mùa hè năm 1987, Arsenal đã chi 350,000 bảng cho Wimbledon để đưa Winterburn về sân Highbury. Ông đã không cạnh tranh được vị trí với Sansom, cầu thủ trụ cột của đội tuyển Anh. Lần đầu tiên được ra sân, ông xuất hiện bên cánh phải của đội bóng, một phương pháp thay thế mang tính bắt buộc của Graham sau khi vị huấn luyện viên này không thành công trong việc tìm cầu thủ xứng đáng để thay thế cho Viv Anderson.
Mặc dù thuận chân trái, nhưng Winterburn đã đảm nhiệm bên cánh phải bằng hết khả năng của mình. Tuy nhiên ông sớm liên quan đến 2 sự kiện gây nhiều tranh cãi ở mùa giải đầu tiên của mình. Vụ việc đầu tiên xảy ra trong 1 trận đấu tại cúp FA trên sân vận động Highbury, ông đã công khai trêu tức tiền đạo của Manchester United là Brian McClair sau khi cầu thủ này bỏ lỡ quả penalty. Chuyện này đã gây nên làn sóng chỉ trích Winterburn vào thời điểm đó
Vụ việc thứ hai xảy ra trong trận chung kết cúp Liên Đoàn cuối mùa giải đó. Mặc dù thi đấu không tốt đầu trận, nhưng Arsenal vẫn là đội chiếm lĩnh thế trận và đang dẫn trước Luton Town 2-1 trên sân Wembley. Khi thời gian chỉ còn chưa đầy 15 phút nữa là hết giờ thì David Rocastle đã ngã trong vòng cấm địa của đội Luton. Michael Thomas là cầu thủ được chỉ định thực hiện đá phạt đền cho Arsenal trong phần lớn mùa giải nhưng không thể giải thích lý do tại sao, Winterburn lại là người đặt bóng vào chấm phạt đền. Ông chưa từng đá phạt đền cho Arsenal bao giờ, bình luận viên Brian Moore đã vô cùng ngạc nhiên – "Đây đúng là một quyết định kỳ lạ!" – và Winterburn đã bước lên chấm phạt đền.
Ông đá mạnh vào góc phải phía dưới khung thành, nhưng thủ môn đội Luton, Andy Dibble đã đoán chính xác hướng bóng và đẩy bóng ra ngoài sát cột dọc. Nếu như Winterburn ghi bàn, Arsenal gần như chắc chắn sẽ dành chiến thắng với tỷ số 3-1. Thay vì vậy, Luton đã thi đấu đầy nỗ lực và đã có hai bàn thắng trong 10 phút cuối trận, dành chiến thắng chung cuộc. Dù đá hỏng quả penalty, nhưng Winterburn – người chịu chỉ trích nhiều nhất – cũng không mắc sai lầm như Gus Caesar (người thay thế cho David O'Leary, không thể tham gia trận chung kết do chấn thương) khi cầu thủ này phá bóng trượt tạo cơ hội cho Luton cân bằng tỷ số 2-2.
Bomber
17-02-2008, 01:54 PM
Hậu vệ Sansom rời Arsenal vào mùa hè và kết quả là Winterburn được chuyển sang chơi với vai trò hậu vệ cánh trái quen thuộc, và ông đã đá ở vị trí này trong hơn 1 thập kỷ. Ông và người đồng đội Lee Dixon bảo vệ vững chắc 2 bên cánh, cùng với đội trưởng Tony Adams và cầu thủ kỳ cựu David O'Leary cũng như Steve Bould – đến Arsenal trong mùa giải 1989 - là những hậu vệ xuất sắc. Thường thì huấn luyện viên sẽ sử dụng cả năm cầu thủ khi Arsenal gặp đội đầu bảng Liverpool ở trận đấu cuối cùng của mùa giải, trận đấu quyết định chức vô địch giải hạng Nhất (nay là giải Ngoại hạng) trên sân Anfield. Ngôi vị vô địch gần nhất mà các cầu thủ Arsenal dành được là cú đúp năm 1971.
Tình hình của Arsenal buộc họ phải dành chiến thắng 2 bàn cách biệt thì mới có thể dành chức vô địch. Pha sút phạt của Winterburn đã đã tạo điều kiện cho Alan Smith ghi bàn thắng mở tỷ số nhanh chóng sau khi hiệp hai bắt đầu, bàn thắng thứ hai được thực hiện khi Thomas thoát xuống giữa sự kèm cặp của hàng hậu vệ Liverpool, nhận bóng từ đồng đội và ghi bàn ở những phút bù giờ, cổ động viên của Arsenal vỡ oà trong sự vui sướng.
Cuối năm đó, Winterburn lần đầu tiên được xuất hiện trong màu áo đội tuyển Anh, ông được thay vào sân trong trận gặp Italia khi tỷ số đang hoà 0-0. Mặc dù nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như huấn luyện viên của Arsenal thường xuyên ca ngợi những ưu điểm của hậu vệ cánh trái người Anh này nhưng huấn luyện viên đội tuyển Anh, ông Bobby Robson, chỉ xem Nigel là sự lựa chọn thứ 3 ở vị trí hậu vệ trái tại World Cup 90, sau Stuart Pearce và Tony Dorigo. Chỉ khi có chấn thương mới có cơ hội vào sân cho Winterburn, nhưng điều đó đã không xảy ra. Tuy nhiên ông đã được ra sân trong đội hình B.
Arsenal kết thúc mùa giải 1990 mà không có danh hiệu nào,nhưng Winterburn và những đồng đội của ông ở hàng phòng ngự - giờ đã được tăng cường khi có thêm thủ môn David Seaman mới chuyển tới – đã tái khẳng định khả năng phòng ngự chắc chắn của họ khi đoạt lại được chứ vô địch với chỉ một trận thua duy nhất ở mùa giải tiếp theo. Hai năm sau, Winterburn đã dành được cú đúp với Arsenal và đã hoàn tất bộ sưu tập huy chương ở giải trong nước của mình. Arsenal đánh bại Sheffield Wednesday 2-1 ở cả 2 trận chung kết cúp Liên Đoàn và cúp FA, trận chung kết FA đá lại do hai đội hoà 1-1.
Phong độ của Winterburn đã khiến cho huấn luyện viên đội tuyển Anh Graham Taylor gọi ông trở lại đội tuyển trong giải đấu được tổ chức ở Mỹ, giải đấu mà đội Anh đã không thành công khi để thua đội chủ nhà 2-0. Winterburn được ra sân để thay thế cho cầu thủ chạy cánh của đội Manchester United Lee Sharpe trong trận cuối cùng gặp đội tuyển Đức.
Năm 1994, giới chuyên môn về bóng đá đã bày tỏ sự đánh giá rất cao Winterburn và các đồng đội của ông ở hàng phòng ngự của Arsenal sau khi họ kèm cặp được bộ ba tấn công rất xuất sắc người Ý bên phía Parma là Faustino Asprilla, Tomas Brolin và Gianfranco Zola. Họ đã bảo vệ được kết quả dẫn trước 1-0 sau khi Smith giúp Arsenal vượt lên dẫn trước ở phút thứ 20. Họ đã thi đấu với sự tự tin và dành được chiếc cúp C2, đây là thành công đầu tiên của Arsenal tại đấu trường châu lục trong một phần tư thế kỷ. Họ không gặp nhiều may mắn trong những năm tiếp theo khi họ đi đến trận đấu cuối cùng. Trong trận chung kết cúp C2 ngay năm sau đó gặp đội Real Zaragoza, trận đấu đang có tỷ số hoà 1-1 và mọi người đã nghĩ đến những loạt đá penalty, thì Nayim (cầu thủ cũ của Tottenham, đối thủ không ưa thích của Arsenal) bằng một cú sút bóng từ vạch giữa sân đã ghi bàn thắng ở thời gian đá hiệp phụ, đem về chức vô địch cho Real Zaragoza ở ngay phút cuối cùng.
Arsène Wenger đến dẫn dắt Arsenal vào cuối năm 1996 và ông đã truyền cảm hứng mới vào đội bóng Arsenal, sử dụng hàng hậu vệ đã có tuổi (Adams đã 30 tuổi nhưng là cầu thủ trẻ nhất; Martin Keown cũng chuyển tới để thay thế cho O'Leary, giải nghệ sau thành công ở FA cúp năm 1993), giúp họ tiếp tục chơi bóng và dành được một số thành công trong những năm sau đó. Với 6 sáu cầu thủ kinh nghiệm ở hàng phòng ngự sử dụng tiếng bản xứ, những cầu thủ tài năng mới chuyển đến đã được giúp đỡ để sớm hoà nhập với đội bóng, Arsenal dành cú đúp vào năm 1998, vô địch giải ngoại hạng và cúp FA. Winterburn được huấn luyện viên tạm quyền, Howard Wilkinson gọi trở lại đội tuyển Anh trong trận đá giao hữu với Pháp năm 1999 nhưng ông không có tên trong đội hình chính thức của Wilkinson, cả Seaman, Adams, Keown và Dixon đều được đá chính nhưng Winterburn đã không cạnh tranh được với Graeme Le Saux ở vị trí hậu vệ trái và phải ngồi trên băng ghế dự bị, kết quả đội Anh bị thua với tỷ số 2-0.
Vào năm 2000, Arsenal tiến tới trận chung kết UEFA Cup nhưng Winterburn đã không có được xuất chính thức trong đội khi vị trí hậu vệ cánh trái được trao cho cầu thủ người Braxin Silvinho. Sau đó ông dần dần bị cầu thủ trẻ Ashley Cole thay thế trong vòng 12 tháng tiếp theo. Mặc dù sự nghiệp lừng lẫy tại Arsenal đã kết thúc nhưng sẽ khó có ai sánh ngang được với những thành tích của Winterburn.
Winterburn chuyển sang chơi cho West Ham United sau 429 trận thi đấu dưới màu áo Arsenal ở giải ngoại hạng (ghi được 8 bàn thắng – trong đó có một số bàn thắng ngoạn mục được ghi từ ngoài vòng cấm địa). Ông đã chơi 3 mùa giải cuối cùng của sự nghiệp cầu thủ tại Upton Park trước khi giải nghệ ở tuổi 40. Hiện nay ông làm bình luận viên cho các trận đấu. Winterburn được các cổ động viên của Arsenal đặt cho biệt danh trìu mến là 'sóc điên'.
Winterburn hiện nay đã giải nghệ và về sống ở Weston Turville, gần Aylesbury, Bucks với vợ và 3 con.
Bomber
17-02-2008, 01:55 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/parlour.jpg
Ray Parlour
Tên đầy đủ: Raymond Parlour
Sinh ngày: 7/3/1973
Nơi sinh: Romford, Anh
Biệt danh: The Romford Pelé, Pizza
Trưởng thành từ đội trẻ Arsenal 1989-1992
Thời gian CLB Trận/bàn thắng
1992-2004 Arsenal 339 trận (22) bàn
2004- Middlesbrough 46 trận (3) bàn
-Thi đấu cho đội tuyển QG:
1992-1994 U21 Anh 12 (0)
1998-2000 Tuyển Anh 10 (0)
Sự nghiệp bóng đá
Parlour là một trong những người xuất sắc nhất ở lứa cầu thủ của anh ở Arsenal, nơi anh đã gắn bó suốt 14 năm trong sự nghiệp của mình. Parlour gia nhập Arsenal với tư cách một cầu thủ học việc năm 1989. Và anh có trận đấu đầu tiên tại đội hình 1 ngày 29 tháng 1, 1992 trong trận gặp Liverpool trên sân Anfield. Trong trận đấu đó the Gunners đã thua với tỉ số 0-2.
Parlour tiếp tục thăng tiến trong sự nghiệp của mình một vài năm sau. Trong khoảng thời gian đó anh được đá cho đội tuyển U21 Anh và được ra sân 12 trận. Sau đó anh có phong độ tốt vào khoảng năm 1994-95 và được chơi trận chung kết Cup Winners' Cup. Tuy nhiên Arsenal đã để thua Real Zaragoza.
Ray Parlour chỉ thực sự phát huy được hết tài năng của mình khi Arsène Wenger đến với Arsenal năm 1996. Anh trở thành một sự lựa chọn thường xuyên cho vị trí tiền vệ cánh phải hay tiền vệ trung tâm trong đội hình Arsenal.
Năm 1997-1998 Arsenal dành cú đúp vô địch PL và FA cup và Parlour cũng đóng góp một phần không nhỏ vào thành tích đó. Anh trở thành cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu trong trận chung kết FA cup với Newcastle United năm đó. Anh là người đã kiến tạo cho Nicolas Anelka ghi 2 bàn giúp Arsenal dành thắng lợi 2-0.
Tuy nhiên anh đã không có mặt tại World Cup 1998 và HLV Glenn Hoddle đã đưa Darren Anderton vào thay vị trí của anh.
Parlour có trận đấu đầu tiên trong sự nghiệp thi đấu Quốc tế cho đội tuyển quốc gia là tại vòng loại Euro 2000 trong trận đấu với Ba Lan, ngày 27/3/1999. Anh đã có 10 lần khoác áo đội tuyển quốc gia tuy vậy anh đã không ghi được bàn thắng nào.
Lần gần nhất anh có mặt đó là tại vòng sơ loại 2002 FIFA World Cup trong trận gặp Finland ngày 11/11/2000. Trong trận đấu đó anh đã có một cú sút từ tầm 30 yard. Bóng đập xà ngang và ra ngoài. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 0-0. Parlour chưa từng dành được danh hiệu riêng nào cho mình trong những trận chung kết. Chấn thương đầu gối đã buộc anh phải vắng mặt tại Euro 2000. Lần có mặt cuối cùng của anh là trong trận đấu giao hữu với Italy ngày 15/11/2000. Sau đó Parlour còn được gọi vào đội tuyển một vài lần bởi HLV Sven-Goran Eriksson.
4 năm sau đó anh tiếp tục gặt hái thành công tại Arsenal (trong đó có cú đúp năm 2002) nhưng nhìn chung anh là một người thầm lặng và ít được sự chú ý của các cổ động viên hơn so với những đồng đội nổi tiếng khác tại Arsenal. Đặc biệt là anh luôn bị núp dưới bóng của Patrick Viera trong phần lớn thời gian anh ở câu lạc bộ. Cuối cùng anh đã khẳng định được vị trí của mình bằng bàn thắng ở khoảng cách 30 yard mở tỉ số trong trận chung kết FA cup với Chelsea năm 2002. Bàn thắng được bình chọn là bàn thắng đẹp nhất trận đấu và "never mind, only Ray Parlour" (không cần nghĩ, chỉ có thể là Ray Parlour). Arsenal dành thắng lợi 2-0. Bàn thắng còn lại được ghi bởi Fredrik Ljungberg. Trong suốt thời gian ở Arsenal anh đã 3 lần cùng Arsenal đạt PL, 4 chiếc cup FA, 1 League cup và 1 European Cup Winners' Cup. Parlour đã chơi 467 trận cho câu lạc bộ và ghi được 32 bàn thắng.
Mùa hè năm 2004 anh chuyển đến Middlesbrough trong sự tiếc nuối của nhiều cổ động viên Arsenal. Trong trận chung kết Cup UEFA năm 2006 anh đã không được ra sân. Trận đấu đó Middlesbrough thua 4-0 trước Sevilla. Hiện giờ Parlour đang trải qua một khóa huấn luyện của FIFA để lấy bằng huấn luyện viên.
Cuộc sống gia đình
Parlour cưới Karen năm 1998 họ đã có 3 con trước khi sống li thân. Tháng 7 năm 2004 họ li hôn. Karen Parlour có được 2 ngôi nhà trị giá £250,000 và nhận £406,500 mỗi năm tiền nuôi con trong vòng 4 năm. Đây là một trong những vụ li hôn đình đám nhất nước Anh.
Bomber
17-02-2008, 01:56 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124682_srdixon150.jpg
Lee Dixon - Thành viên của bộ tứ huyền thoại
Tên đầy đủ: Lee Michael Dixon
Ngày sinh: 17/03/1964
Nơi sinh: Manchester, Anh
Vị trí: hậu vệ
Đội trẻ: Burnley
Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1982-1984 Burnley 4 (0)
1984-1985 Chester City 57 (1)
1985-1986 Bury 45 (5)
1986-1988 Stoke City 71 (5)
1988-2002 Arsenal 458 (24)
Tuyển quốc gia**
1990-1998 Anh 22 (1)
* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước tính đến ngày
27/08/2006.
** Số trận và bàn thắng ghi đươc cho tuyển quốc gia tính đến ngày
27/08/2006.
Lee Michael Dixon (sinh ngày 17/3/ 1964 tại Manchester, Anh) là một thành viên của hàng phòng ngự lừng lẫy của Arsenal trong những năm 90 và về sau.
Lee Dixon sinh trưởng tại Manchester và là cổ động viên Manchester City. Dixon đến với bóng đá đỉnh cao khá muộn - anh đã chơi cho Burnley (nơi anh đá ở đội 2), Chester City, Bury và Stoke City trước khi được huấn luyện viên của Arsenal ông George Graham đưa về vào 1/1988.
Arsenal tìm người thay thế cho hậu vệ người Anh Viv Anderson, người đã bị bán sang Manchester United, thế là Dixon được đưa lên đội 1 ở Highbury. Với hậu vệ kì cựu Kenny Sansom ở bên trái, hậu vệ trái Nigel Winterburn đã thi đấu rất thành công ở vị trí hậu vệ phải đầy lạ lẫm, Dixon đã có trận ra mắt khi gặp Luton Town vào 2/1988 và chơi tổng cộng 6 trận trước khi mùa bóng kết thúc. Trong mùa hè, Sansom rời Arsenal và Winterburn được trả về vị trí, Dixon được mang áo số 2, ở vị trí mà anh đã chơi rất tốt trong hơn 10 năm.
Khi lối chơi phòng ngự không còn làm vừa mắt khán giả, những cái đầu lọc lõi đã chuyển lối chơi Arsenal thành 4 hậu vệ, theo cách họ đã chơi ở những năm 90. Dixon và Winterburn chơi tại hai cánh, trong khi đôi trưởng Tony Adams và trung vệ kì cựu David O'Leary trấn giữ ở giữa. Năm 1989 họ đón nhận Steve Bould, người cũng như Dixon, đã được Graham đưa về từ Stoke City. Thế là 5 hậu vệ thường xuyên chơi tại các vị trí khác nhau của hàng phòng ngự, (hơn cả 4 hậu vệ truyền thống) là sự thay đổi quan trọng của Arsenal khi họ đoạt chức vô địch quốc gia năm 1989, danh hiệu đầu tiên từ sau cú đúp năm 1971, khi mà Graham vẫn còn là cầu thủ.
Dixon là chuyên gia cướp bóng bên cánh phải, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng hỗ trợ cầu thủ chạy cánh David Rocastle và kỹ năng tấn công của anh rất có tiếng ngay cả khi nhiệm vụ chính của anh là phòng ngự (và ưu thế chính bên cánh). Anh cũng có một ảnh hưởng mạnh mẽ trong suốt thời kỳ này khi anh là một chuyên gia sút Penalty của câu lạc bộ. Arsenal bị vượt qua tại League championship cho tới ngày cuối cùng của mùa bóng khi họ đối mặt với Liverpool tại Anfield vào tối thứ 6 một ngày cuối tháng 5.
Trận đấu bị hoãn lại và mang lại rất nhiều lợi thế cho Liverpool, đội đã vượt qua nỗi ám ảnh khung khiếp về thảm họa Hillsborough và đoạt FA Cup, giữa Arsenal chỉ còn lại họ và cú đúp nữa. Arsenal đã trải qua rất nhiều các giải đấu bị ngăn chặn bởi Liverpool, cần phải thắng với cách biệt ít nhất là 2 bàn, đó là điểm khác biệt ghê gớm giữa 2 đội. Nếu không chức vô địch là của Liverpool.
Trận đấu được duy trì với tỉ số 1-0 cho đến khi đồng hồ chỉ tới phút 90. Dixon một mình nhận bóng và thấy có cơ hội kết thúc 1 đường tấn công. Nhận thấy tiền đạo cắm Alan M. Smith đã dạt sang cánh phải, Dixon phất một đường bóng dài chuẩn xác đến ngực anh. Những bước chạy của Smith đã lôi kéo hậu vệ Liverpool chạy theo và tiền vệ Michael Thomas của Arsenal chọc ngay vào khe hở đó, nhận cú chuyền bóng hoàn hảo của Smith và bấm bóng qua đầu thủ môn Bruce Grobbelaar. Quá muộn cho Liverpool bắt đầu lại và chức vô địch là của Arsenal, danh hiệu đầu tiên trong bộ sưu tập của Dixon.
Arsenal đã chiến đấu để bảo vệ chức vô địch (không thể tham dự Cup châu Âu bởi lệnh cấm các câu lạc bộ Anh sau thảm họa Heysel) nhưng niềm vui đến với Dixon khi anh có trận ra mắt tuyển Anh vào 4/1990 tại trận đấu trước World Cup gặp Czechoslovakia. Anh đã chơi tốt, nhưng hy vọng được gọi vào tuyển cho giải đấu lớn nhất hành tinh là rất nhỏ nhoi khi anh chỉ là sự lựa chọn thứ 3 sau Gary Stevens và Paul Parker. Chỉ có chấn thương xảy đến cho một trong 2 người mới mở ra cánh cửa cho Dixon tới Italy và điều đó đã không xảy ra.
Bomber
17-02-2008, 01:57 PM
Sau World Cup, huấn luyện viên mới Graham Taylor ngay lập tức thay thế Stevens và Parker bằng Dixon, người đã ghi 1 bàn tại Wembley trong trận đấu thứ 6 của vòng loại Euro 92 trước Cộng hoà Ireland. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 1-1. Cũng trong mùa bóng này, hàng thủ khét tiếng của Arsenal (bấy giờ David Seaman chơi ngay sau họ) ngày một tiến bộ, với chỉ 1 trận thua trong mùa bóng họ lại đoạt chức vô địch.
Hết năm 1991, Dixon đã chơi 11 trận cho tuyển quốc gia, bao gồm tất cả các trận vòng loại Euro 92. Anh đã lọt vào vòng chung kết tổ chức tại Thuỵ Điển. Khi vòng chung kết diễn ra, Dixon gặp một chấn thương, do đó Stevens được gọi thay thế. Taylor điền tên Dixon thay vì Stevens trong danh sách dự tuyển, thế nhưng chấn thương đã đến trong một trận đấu. Stevens được gọi lại, cho đến khi hậu vệ của Rangers cũng gặp một chấn thương. Đội Anh phải thi đấu mà không có một hậu vệ cánh phải thực thụ trong đội hình và cũng chẳng vượt qua được vòng bảng.
Sau mùa hè, Dixon trở lại tuyển Anh khi mà hàng phòng ngự của câu lạc bộ đang lỏng lẻo. Với O'Leary sắp giải nghệ, Graham đã bổ sung cho vị trí trung vệ khi đem về Martin Keown từ Everton –đáng chú ý ở chỗ đây chính là cầu thủ được gọi bổ sung cho vị trí hậu vệ phải tại Euro 92 sau khi cả Dixon và Stevens không thể thi đấu.
O'Leary có trận cuối cùng ở vị trí hậu vệ phải của Dixon trong trận chung kết League Cup năm 1993 với Sheffield Wednesday do Dixon không đảm bảo thể lực. Arsenal thắng 2-1. Dixon trở lại trong trận chung kết FA Cup, trận đấu mà Arsenal dành thắng lợi sau khi đá lại, vì trận trước đã kết thúc với tỉ số hòa 1-1. Không may, vào năm 1993 tuyển quốc gia Anh thi đấu không tốt và thất bại tại vòng loại World Cup 1994 tổ chức tại Mĩ.
Trận đấu thứ 21 của Dixon là chiến thắng 7-1 trước San Marino tại vòng loại WC ( một trận đấu thủ tục), cũng là trận cuối cùng dưới sự dẫn dắt của Taylor trước khi Terry Venables lên thay. Cuộc thử nghiệm với các hậu vệ phải chỉ kết thúc khi Gary Neville thi đấu thành công năm 1995, vị trí đó được duy trì đến bây giờ.
Năm 1994, Dixon vô địch cúp Châu Âu để bổ sung vào bộ sưu tập chiến tích một hậu vệ huyền thoại của Arsenal, người luôn luôn dùng những khả năng của mình để ngăn chặn thành công lối chơi lắt léo của các cầu thủ khác. Một lần nữa, lối chơi phòng ngự hiếm khi là 1 cuộc trình diễn thế nhưng cái cách mà Dixon, Winterburn, Bould và Adams nỗ lực chứng tỏ được trình độ của mình trước những Tomas Brolin, Gianfranco Zola và Faustino Asprilla của câu lạc bộ Italia Parma thật là thú vị ngay cả đối với những khán giả tôn thờ chủ nghĩa bóng đá tấn công. Arsenal sớm ghi bàn trong trận chung kết European Cup Winners Cup tại Copenhagen và để hàng phòng ngự nghỉ ngơi, chung cuộc họ thắng 1-0.
Dixon lại mang chiếc áo số 2 khi Arsenal tiếp tục sa sút vào năm 1995 nhưng họ đã vào chung kết Winners Cup một lần nữa. Mặc dù hàng thủ ở Paris đã bị Real Zaragoza chọc thủng, Arsenal nhanh chóng lập lại thế cân bằng và trận đấu phải đá thêm giờ. Hậu vệ hoàn thành nhiệm vụ nhưng lại xảy ra một cú sút rất tức cười tận đường biên gần giữa sân ở phút cuối cùng, thực hiện bởi Nayim (người vừa trở lại sau chấn thương, cựu cầu thủ Spurs) và giằng cup ra khỏi tay các Gunners.
Cuối năm 1996, Arsène Wenger tới Highbury và bắt đầu tiến hành xây dựng lối chơi và chiến thuật của mình cho đội hình Arsenal, thay đổi hoàn toàn nhãn quan và cả chế độ dinh dưỡng. Điều này cho phép hàng thủ của Arsenal có thể kéo dài phong độ đỉnh cao. Ông Wenger ngay lập tức thay đổi cách chơi của các hậu vệ và yêu cầu họ chơi nhanh hơn, hợp lí hơn. Dixon và các đồng đội luôn luôn bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với Wenger sau những chỉ bảo của ông để có thể kéo dài sự nghiệp.
Arsenal lại đoạt cú đúp năm 1998 và Dixon đã được trao 1 kỉ niệm chương vì đã tham gia đầy đủ các trận đấu của Arsenal trong mùa giải đó. Anh cũng nhận được món quà bất ngờ khi được gọi lại vào tuyển Anh dưới sự dẫn dắt của Howard Wilkinson, người lên nắm quyền sau sự ra đi của Glenn Hoddle. Dixon đã chơi trong trận thua 2-0 trước đội Pháp ở Wembley, sau đó anh biến mất một cách lặng lẽ khỏi tuyển quốc gia và không bao giờ quay lại. Anh đã khoác áo tuyển quốc gia 22 lần nhưng không được tham gia giải đấu lớn nào.
Dixon chơi tại UEFA Cup năm 2000, giải đấu Arsenal đã lọt vào trận chung kết cũng tại sân vận động Copenhagen nơi họ đã đoạt Winners Cup 6 năm trước đó. Trong trận đấu này họ đã bị đánh bại trong loạt penalty trước Galatasaray của Thổ Nhĩ Kì. Năm tiếp theo Arsenal lọt vào chung kết FA Cup nhưng thất bại trước Liverpool với tỉ số 2-1 tại sân vận động Thiên niên kỉ ở Cardiff - Dixon lúc đó đã 37 tuổi và sắp giải nghệ, anh không thể hoàn thành nhiệm vụ khi để cầu thủ Michael Owen 21 tuổi ghi 1 bàn thắng.
Sau khi giải nghệ
Dixon giải nghệ ngay trong mùa bóng mà Arsenal đoạt được 1 cú đúp khác. Cùng với sự ra đi của Adams, chỉ còn Seaman và Keown tiếp tục phục vụ cho câu lạc bộ kể từ ngày hàng phòng ngự trở thành hàng thủ được kính trọng nhất giải vô địch Anh. Sau khi O'Leary giải nghệ năm 1993, Bould là người tiếp theo của hàng phòng ngự trứ danh ra đi vào năm 1999 và Winterburn cũng rời Highbury một năm sau đó.
Dixon gây ấn tượng sâu sắc ở Arsenal khi chơi 458 trận ở giải trong nước với 25 bàn thắng, hoàn thành bộ sưu tập huy chương khổng lồ.
Sau khi giải nghệ và li dị, anh thử sức trong một số lĩnh vực kinh doanh trong đó có cửa hàng Riverside Brasserie ở Bray, Berkshire, cùng người bạn Heston Blumenthal. Anh tập chơi golf mỗi ngày ở câu lạc bộ Woburn. Anh cũng trở thành bình luận viên đài BBC, và gần đây bắt đầu kiếm được công việc chỉ đạo trong chương trình bóng đá Match of the Day.
Bomber
17-02-2008, 01:58 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/_38124681_srbould150.jpg
Steve Bould - Thành viên của bộ tứ huyền thoại
Tên đầy đủ: Stephen Andrew Bould
Ngày sinh 16/11/1962
Nơi sinh: Stoke, Trent, Anh
Biệt danh: Bouldy
Vị trí: Trung vệ
Đội trẻ
1978-80 Stoke City
Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1980-1988 Stoke City183 (6)
10-12/1982 Torquay United (cho mượn) 9 (0)
1988-1999 Arsenal 288 (5)
1999-2000 Sunderland 21 (0)
Tuyển quốc gia
1994 Anh B1 (0)
1994 Anh 2 (0)
* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.
Stephen Andrew Bould (sinh ngày 16/11/1962) là cựu cầu thủ bóng đá người Anh.
Sinh ra tại Stoke, Trent, Bould kí hợp đồng với đội trẻ của câu lạc bộ quê nhà Stoke City khi còn là học sinh trung học vào năm 1978 và được thi đấu chuyên nghiệp từ tháng 11/1980. Anh ra mắt ở vị trí hậu vệ phải trong trận thua 3-2 trên sân Middlesbrough vào tháng 9/1981. Thế nhưng, anh vẫn chưa thể khẳng định mình trong đội hình chính của câu lạc bộ và phải đến Torquay United vào tháng 10/1982 theo bản hợp đồng cho mượn và thi đấu 9 trận dưới quyền của huấn luyện viên Bruce Rioch.
Bould dần dần được chơi ở đội hình chính của Stoke, cố định ở vị trí trung vệ, mặc dù một chấn thương lưng nghiêm trọng vào năm 1987 đe dọa sự nghiệp của anh, nhưng sau vài cuộc phẫu thuật anh đã trở lại. Anh chuyển tới Arsenal vào năm 1988, và trở thành một phần bộ tứ lẫy lừng của Arsenal, cùng với Tony Adams, Nigel Winterburn và người đồng đội ở Stoke là Lee Dixon. Bould đoạt hai danh hiệu vô địch quốc gia ở Giải hạng nhất vào mùa bóng 1988-89 và 1990-91; chấn thương khiến anh không thể tham dự trận chung kết FA Cup và League Cup khi Arsenal vô địch mùa bóng 1992-93.
Sau khi chiến thắng trận chung kết Winners' Cup mùa bóng 1993-94, thành công đã rời bỏ Arsenal cũng như Bould trong vài năm tiếp theo, sự xuất hiện của huấn luyện viên người Pháp Arsène Wenger đã làm xuất hiện một số tin đồn về việc Bould sẽ rời câu lạc bộ (đặc biệt là vào lúc đó anh thường xuyên là sự lựa chọn số 2 sau Martin Keown). Thế nhưng với sự khích lệ nho nhỏ về việc phục hồi phong độ, Bould đã là một thành viên của đội hình giành cú đúp mùa bóng 1997-98 - Bould đã kiến tạo cho Tony Adams một pha cắt bóng thành công để Tony ghi bàn thắng chung cuộc 4-0 cho Arsenal trước Everton, họ đã giành danh hiệu vô địch Premiership sau đó.
Tuổi tác không cho phép Bould tiếp tục chơi bóng đỉnh cao và sau khi kết thúc mùa bóng ở Highbury anh đã chuyển sang thi đấu cho Sunderland vào 7/1999 với mức phí là 500.000 bảng, huấn luyện viên Peter Reid ngay lập tức trao cho anh băng đội trưởng. Bould đã có 2 mùa bóng ở Stadium of Light, nhưng chấn thương đã buộc anh phải giải nghệ vào tháng 9/2000 sau khi chơi 21 trận cho Sunderland. Ngay lập tức anh bắt đầu theo học lớp đào tạo huấn luyện viên của UEFA và tháng 6/2001 anh trở lại Arsenal để làm huấn luyện viên đội trẻ.
Mặc dù là thành viên của hàng phòng ngự lừng danh cuối những năm 80 cho đến giữa những năm 90 của thế kỉ trước, Bould chỉ 2 lần được khoác áo tuyển Anh, kém xa so với người đá cặp là trung vệ Tony Adams.
Bomber
17-02-2008, 01:59 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/keown1.jpg
Martin Keown
Tên đầy đủ: Martin Raymond Keown
Ngày sinh: 24 – 7 – 1966
Nơi sinh: Oxford
Vị trí: hậu vệ
Keown là mẫu cầu thủ bóng đá truyền thống của Anh trong khi lại là người gốc Ailen và đã gắn bó phần lớn sự nghiệp của mình trong màu áo Arsenal.
Trong vai trò là một hậu vệ, Keown đã chơi cho một vài câu lạc bộ địa phương khi còn nhỏ trước khi gia nhập Arsenal theo một thoả thuận vào năm 1980, cho dù sau đó anh đã đá trận đầu ra mắt trong sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp cho Brighton & Hove Abilon theo hợp đồng cho mượn vào năm 1984. Keown đã quay trở lại Arsenal và chỉ kịp xuất hiện có 22 lần trước khi bị ngài chủ tịch mới của Arsenal khi đó là George Graham bán cho Aston Villa vào năm 1987.
Keown đã chơi cho Aston Villa 3 mùa giải trước khi chuyển tới Everton vào mùa hè 1989. Tại Everton anh đã được lần đầu tiên thi đấu trong màu áo đội tuyển quốc gia trong trận gặp Pháp năm 1992. “Nhờ“ chấn thương của Mark Wright mà Keown đã được triệu tập vào đội tuyển Anh thi đấu tại Euro 92 và đã đá trong cả 3 trận của tuyển Anh.
Tháng 2-1992, Keown đã kí một bản hợp đồng mới để quay trở lại câu lạc bộ cũ Arsenal với giá chuyển nhượng là 2 triệu bảng. Keown phải cạnh tranh vị trí hậu vệ trung tâm thứ hai để đá cặp với Tony Adams. Anh không xuất hiện trong màu áo Arsenal tại cả cúp FA và League Cup năm 1993 theo luật "cup-tied" và chỉ được thay vào trong trận thắng Parma giành cúp C2 một năm sau đó. Tuy nhiên anh đã trở thành một phần không thể thiếu trong cú đúp (gồm chức vô địch giải Ngoại hạng và vô địch cúp FA) năm 98 và 2002 của Arsenal dưới triều đại Arsene Wenger.
Những thành công từ rất sớm của Keown trong màu áo đội tuyển quốc gia khi Graham Taylor còn dẫn dắt không được phát huy khi Terry Venables lên thay thế. Ông đã không trọng dụng anh. Cho đến tháng 3-1997 cơ hội mới lại đến với anh khi Glenn Hoddle làm HLV trưởng đội tuyển Anh. Sau đó Keown tiếp tục được tham dự World Cup 98 nhưng lại không được thi đấu. Phải đến triều đại của Kevin Keegan Keown mới thực sự được trọng dụng (đeo băng đội trưởng trong trận đấu gặp Phần Lan) và được chơi 2 trận tại Euro 2000. Khi Sven-Goran Eriksson trở thành HLV trưởng đội tuyển Anh, tuổi tác trở thành một vấn đề bất lợi cho Keown và cho dù vẫn có tên trong danh sách thi đấu tại World Cup 2002, một lần nữa anh chỉ là cầu thủ dự bị. Vắng mặt một số trong một số trận đấu đầu tiên dưới triều đại Eriksson vì lý do chấn thương nhưng anh đã quay lại đầy ấn tượng trong trận gặp Mexico và sau đó là trận gặp Hi Lạp tại vòng loại World Cup. Anh đá khá cặp khá ăn ý với Rio Ferdinand trong một dàn cầu thủ trẻ tuổi và phải cạnh tranh vị trí với Sol Campbell. Trong 43 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh, Keown ghi được 2 bàn thắng.
Keown chơi cho Arsenal cho đến năm 2004 cùng với Arsenal đạt được một chiếc cúp vô địch Ngoại hạng. Sau đó anh rời khỏi Arsenal theo một bản chuyển nhượng tự do. Anh đã ký hợp đồng với Leicester City nhưng lại rời bỏ chỉ sau đó hơn 6 tháng (có tin đồn rằng anh mâu thuẫn với chủ tịch của Leicester – Micky Adams) và tới chơi cho Leading từ tháng 1-2005 cho tới cuối mùa giải và rồi từ giã sự nghiệp cầu thủ.
Keown gia nhập hội đoàn huấn luyện của Newbury vào tháng 8-2005 nhưng hiện nay anh đang tham gia công tác đào tạo tại Arsenal và được HLV cũ của Arsenal – Terry Neill tin dùng, coi là chìa khoá đằng sau thành công của hàng phòng thủ kiểu mới có vẻ còn non kinh nghiệm (được dùng đến như một phương sách để đối phó với vấn đề chấn thương) trong mùa giải 2005-06 mà đáng kể nhất là kỷ lục 919 phút không để thủng lưới tại Champions League.
Tính đến lần thứ 400 khoác áo Arsenal trong chiến thắng giành cúp FA Community Shield trước MU đầu mùa giải 2002-03 Keown đã ghi được tổng cộng 8 bàn thắng cho câu lạc bộ.
Danh hiệu
Vô địch Ngoại hạng: 1998, 2002, 2004
Vô địch cúp FA: 1998, 2002, 2003
Á quân cúp UEFA: 2000
Á quân cúp FA: 2001
43 lần khoác áo đội tuyển quốc gia Anh
Bomber
17-02-2008, 02:00 PM
http://www.arsenal.com.vn/afcvn/data/Image/Profiles/230x230/huyenthoai/adams02_1024.jpg
Tony Adams - Người đội trưởng huyền thoại
Tên đầy đủ: Tony Alexander Adams, Tước hiệu Hiệp sĩ
Sinh ngày: 10/10/1966 - Tại Romford, London
Nick name: Mr.Arsenal
Vị trí khi còn là cầu thủ: Trung vệ
Hiện tại: trợ lí HLV Portsmouth.
Gia đình: Vợ: Poppy, có một con trai tên Atticus năm nay 2 tuổi.
Thành tích:
- Khi còn là cầu thủ:
Từ 1984–2002 chơi cho Arsenal , tham dự 504 trận đấu và ghi được (32) bàn
Từ 1987–2000 cùng Tuyển Anh tham dự 66 trận đấu và ghi được (5) bàn
- Huấn luyện:
2003–2004 Wycombe Wanderers
2006–nay Portsmouth (trợ lý)
Sự nghiệp cầu thủ
Adams sinh ra tại Romford, London. Anh ham mê bóng đá từ khi còn là một cậu bé. Adams gia nhập Arsenal năm 1980 khi còn đang đi học phổ thông. Tại đây anh đã gắn bó cả sự nghiệp cầu thủ 22 năm của mình với câu lạc bộ. Trận đấu đầu tiên Adams được đá chính là trận gặp Sunderland ngày 5 tháng 11 năm 1983 khi anh mới 17 tuổi. Lee Dixon, Nigel Winterburn, Steve Bould và Tony Adams đã hợp thành bộ tứ nổi tiếng ở hàng phòng ngự của Arsenal thời George Graham, người nổi tiếng về kỉ luật và bẫy việt vị.
Ở tuổi 21 Adams trở thành người đội trưởng trẻ tuổi nhất của câu lạc bộ và anh tiếp tục giữ vị trí đó 14 năm liền.
Với một hàng phòng ngự mạnh chơi trong một phạm vi rộng, Arsenal đã dành League Cup mùa giải 1986-87, sau đó họ tiếp tục leo lên những vị trí đầu năm 1988-1989, và tiếp tục thành tích đó ở mùa giải 1990-1991 và 1992-1993.
Adams trở thành người đội trưởng đầu tiên của câu lạc bộ dành được cả hai danh hiệu League Cup và FA Cup. Và năm sau đó anh lại cùng Arsenal có được chiếc Cup C2 Châu Âu.
Cũng trong thời điểm đó anh cũng đặt dấu ấn trong sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình trong trận Anh gặp Tây Ban Nha năm 1987. Đó là trận đấu đầu tiên của Adams cho đội tuyển Quốc gia và sau đó là tham dự Euro 88. Sau khi sớm thành công trong sự nghiệp thi đấu quốc tế Adams gặp phải một chút rắc rối. Anh vắng mặt một cách ngạc nhiên tại World Cup 1990 bởi huấn luyện viên Bobby Robson, sau đó bở lỡ Euro 92 do bị chấn thuơng. Tuy vậy anh vẫn là cầu thủ không thể thiếu ở hàng phòng ngự. Sau khi Gary Lineker tiền đạo đội tuyển Anh giã từ sân cỏ năm 1992, Adams chia sẻ cho David Platt giữ chức đội trưởng không chính thức, mặc dù trước đó Adams đảm nhiệm tất cả ở Euro 96 khiến vị trí của Platt trở nên không chắc chắn. Đội tuyển Anh lọt vào đến vòng bán kết nhưng sau đó lại để thua Đức trên chấm phạt đền.
Tuy vậy, cùng thời điểm đó vợ của Adams rất suy sụp vì chứng nghiện rượu của chồng. Adams thường xuyên la cà trong những quán rượu hay những hộp đêm và đã không ít lần lái xe loạng choạng gây tai nạn. Năm 1990 anh phải vào trại cai nghiện rượu trong ba tháng. Sau Euro 96 anh thừa nhận rằng mình là một người nghiện rượu trở nên tĩnh tâm hơn sau khi được điều trị. Anh tiếp tục theo học và còn tham gia những lớp piano. Anh đã vượt qua được chính bản thân mình và năm 1998 Adams trở lại là chính mình.
Có lẽ cho đến giờ anh vẫn đội ơn Arsene Wenger bởi khi đến với Arsenal năm 1996 ông đã giúp Adams không nhỏ trong việc động viên dìu dắt anh. Ông trở thành người hướng dẫn lối sống mẫu mực cho các cầu thủ. Wenger đã tin tưởng anh và vẫn giao cho anh chức đội trưởng, sự ân cần của người thầy khiến Adams cảm thấy hình ảnh Wenger trở nên đẹp hơn bao giờ hết. Anh hiểu và đã làm được điều anh cần phải làm. Anh đã cùng Arsenal hai lần dành cú đúp Premiership và FA Cup những năm 1997-1998 và 2001-2002. Anh trở thành cầu thủ đội trưởng duy nhất trong lịch sử bóng đá Anh cùng câu lạc bộ dành chức vô địch ở cả 3 thập niên.
Trong khi đó huấn luyện viên Glenn Hoddle của đội tuyển Anh đã trao băng đội trưởng cho Alan Shearer năm 1996. Một quyết định làm cho Adams không khỏi ngạc nhiên và tức giận cũng như để lại cho những cổ động viên đội tuyển Anh những câu hỏi khó hiểu. Adams vẫn tiếp tục thi đấu trong màu áo đội tuyển Quốc gia và cuối cùng cũng được tham giự World Cup 1998. Tại Euro 2000 đội tuyển Anh cũng không thành công. Sau khi Shearer không thi đấu cho đội tuyển quốc gia nữa Adams lại trở về với chiếc băng đội trưởng quen thuộc. Tuy nhiên trong những tháng đó đội tuyển Anh đã để tuột mất cơ hội đến Đức tháng 10/2000. Trận đấu cuối cùng được tổ chức trên sân Wembley trước khi sân vận động đó được xây lại. Trận đấu đó là lần thứ 60 Adams chơi trên mặt sân Wemley, một kỉ lục.
Sau này, dưới thời của HLV Sven-Göran Eriksson vị trí của Adams được thay thế bởi Rio Ferdinand. Adams đã giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế của mình trước khi Eriksson lên nắm quyền HLV.
Sau cú ăn đúp năm 2002 cùng Arsenal, Adams quyết định giã từ sân cỏ. Trận đấu cuối cùng của anh là trận chung kết FA cup 2002. Anh đã chơi 668 trận cho Arsenal (chỉ sau có David O'Leary) và là người đội trưởng thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ.
Chiếc áo số 6 của “Mr Arsenal” đã không được sử dụng tới từ mùa 2001-2002 nhưng tới mùa giải 2005-2006 chiếc áo số 6 đó đã có người kế thừa - Philippe Senderos.
Tháng 5 năm 2002 Adams trở thành cầu thủ Arsenal danh dự tham gia trận đấu với Celtic. Trận đấu có sự góp mặt của các huyền thoại Ian Wright, John Lukic. Và Adams trở lại cùng với bộ tứ huyền thoại Dixon, Winterburn và Bould. Trận đấu kết thúc với tỉ số hòa 1-1 với bàn thắng của Lee Dixon, trận đấu cuối cùng của anh trong màu áo The Gunners.
Năm 2004 Admas được nhận vào English Football Hall of Fame với sự công nhận tầm ảnh hưởng của anh trong những trận đấu tại Anh.
Sự nghiệp HLV
Sau khi kết thúc một khóa học đào tạo quản lí thể thao tại trường đại học Brunel, Adams trở thành người quản lí chính thức của Wycombe Wanderers năm 2003. Tháng 11 năm 2004 anh từ chức.
Ngày 7/7/2005 Adams nhận lời làm huấn luyện viên đào tạo học viên cho Feyenoord của Hà Lan. Anh đảm nhận một đội trẻ của Feyenoord. Sau đó anh có một thời gian ngắn ngủi làm huấn luyện viên trưởng cho Utrecht vào khoảng 15/1 đến 2/2 năm 2006.
Ngày 28/6/2006 Admas tới Portsmouth với cương vị là trợ lí HLV của đội bóng, vị trí kế nhiệm Kevin Bond.
Những công việc từ thiện
Tháng 9/2000, với những kinh nghiệm về hậu quả của rượu, Adams đã lập ra một phòng khám chuyên khoa trong thể thao, một tổ chức với mục đích từ thiện chuyên cung cấp những phuơng pháp điều trị, những hướng dẫn và sự giúp đỡ những vận động viên thể thao có thể chấm dứt những vấn đề liên quan đến việc cai nghiện rượu, ma túy hay chất kích thích.
Bomber
17-02-2008, 08:31 PM
http://img.photobucket.com/albums/v310/vuvip/chapmanportrait.jpg
Herbert Chapman
Đã hai lần ông có cơ hội rất lớn để thưởng thức hương vị hat - trick giành chức vô địch quốc gia liên tiếp, đầu tiên là với Huddersfield (1924-26) và sau đó là Arsenal (1933-35). Chỉ có Liverpool (1982-4), Manchester United (1999-2001 )có thể làm như vậy. Ngạc nhiên thay, Chapman chưa lần nào ăn mừng trọn vẹn với niềm vui đó, nhưng chắc chắn không ai có thể quên được những đóng góp của ông.
Herbert Chapman sinh ra ở Kiveton Park, Sheffield năm 1978. Ông từng chơi như một cầu thủ nghiệp dư, trong vai trò tiền đạo ở các câu lạc bộ Stalybridge, Rochdale, Grimsby, Swindon, Sheppey United và Worksop giữa những năm 1897 và 1901 trước khi bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp cho Northampton. Sau đó ông chuyển sang Sheffield United, Notts County, Tottenham (tại Tottenham, Chapman là chân sút lợi hại nhất của câu lạc bộ mùa giải 1905-06 với 11 bàn thắng ). Ông không phải là một cầu thủ lớn và sự nghiệp của ông chỉ nổi danh khi ông khoác lên mình chiếc áo huấn luyện.
Giám đốc Northampton nhận ra tài năng của Chapman và mang ông trở lại câu lạc bộ trong vai trò huấn luyện viên. Trong mùa bóng thứ 2 dẫn dắt, Chapman đã mang về cho đội bóng chức vô địch giải đấu miền Nam, sau đó ông rời bỏ Northampton để đến với Leeds United năm 1912 .
Sau khi thành công trong việc đưa Leeds gia nhập liên đoàn bóng đá Anh, Herbert Chapman tin tưởng chắc chắn rằng ông sẽ dẫn dắt đội bóng giành quyền thi đấu tại giải hạng nhất. Chapman hiểu rõ sự cần thiết của các cầu thủ lớn, hơn là hi vọng vào lứa cầu thủ mà Scott-Walford - một huấn luyện viên khác của Leeds đã tập hợp. Chapman kí hợp đồng với thủ môn của Everton - Billy Scott , hậu vệ quốc tế người Scotland - George Law, cựu tuyển thủ quốc gia Evelyn Lintott ... đó thực sự là một cuộc cách mạng tại đây .
Trong khoảng thời gian ấy, Chapman đã khiến Leeds trở thành một đội bóng nổi danh, luôn ở trong top bảng xếp hạng cùng với số cổ động viên ngày càng tăng " bỏ xa mọi kỉ lục trước đó của câu lạc bộ ". Chapman luôn có một phong cách làm việc đặc biệt, ông mở ra các cuộc họp thảo luận đều đặn và các kế hoạch chiến thuật luôn hỏi ý kiến các cầu thủ. Ông cũng tin rằng, để chơi tốt các cầu thủ phải thực sự thoải mái, do đó ông sắp xếp một buổi chơi gôn cuối tuần như là một phần trong chương trình tập luyện .
Leeds chơi ngày càng tiến bộ và mùa giải 1913-1914 họ xếp thứ 3 chung cuộc tại giải hạng 2. Mùa bóng 1914 -1915 được hi vọng như là năm giành quyền thăng hạn nhưng chiến tranh đã khiến mọi cuộc chơi phải tạm ngưng. Trong suốt thời gian chiến tranh, ông làm việc ở một xưởng vũ khí tại địa phương. Năm 1916, Chapman trở lại Leeds nhưng lúc này ban lãnh đạo từ chối với một lí do không rõ ràng. Chapman bèn quyết định mở một công ty dầu oliu và cacao.
Tuy vậy, vẫn có rất nhiều lời mời chào Chapman và ông trở lại cương vị huấn luyện viên năm 1920, lần này với Huddersfield. Khi ông đến với câu lạc bộ, Huddersfield Town chỉ có một ít tiền, những cầu thủ không tên tuổi và sự thờ ơ của khán giả trong thị trấn, vốn dành sự quan tâm nhiều hơn cho môn bóng bầu dục. Huddersfield Town gia nhập liên đoàn bóng đá Anh năm 1910 và mất thăng hạng nhất năm 1920, do đó có khá nhiều tham vọng.
Sau khi tiếp quản câu lạc bộ, Chapman đã làm tất thảy mọi người phải ngạc nhiên bởi chuổi thành công lạ lùng của Huddersfield Town. Họ giành cúp FA năm 1922, đoạt liên tiếp 2 chức vô địch quốc gia 1924 và 1925. Thời điểm đó Huddersfield Town là câu lạc bộ mạnh nhất Anh quốc với những học trò ưu tú mà Chapman dẫn dắt.
Đúng vào khi trên đỉnh vinh quang, Chapman gây xôn xao giới bóng đá với việc rời bỏ Huddersfield Town để đến với Arsenal, một Arsenal mà khi đó, thật sự yếu kém và mờ nhạt ở cuối bảng xếp hạng. Ngạc nhiên thay, ngay mùa bóng đầu tiên ông dẫn dắt, Arsenal như lột xác và về đích với vị trí thứ 2. Kẻ xếp trên Arsenal chính là Huddersfield Town với kì tích 3 lần liên tiếp vô địch. Đó là một sự trùng hợp thú vị, nhưng với Chapman, nó cũng thật mỉa mai .
Năm mà Chapman đến với Arsenal - 1925, cũng là năm luật việt vị thay đổi. Số cầu thủ đối phương tối thiểu để đảm bảo một cầu thủ không bị việt vị giảm từ 3 xuống 2. Chapman, với đầu óc nhạy bén của mình, chính là huấn luyện viên đầu tiên đã tính toán hợp lý để áp dụng hiệu quả luật thi đấu mới này sao cho có lợi nhất. Ông quyết định bổ sung lỗ hổng nơi phòng ngự bằng cách thêm một hậu vệ nữa. Một tiền vệ giữa sân, thay vì làm nhiệm vụ tấn công thì được kéo về như một trung vệ. Mặt khác, để đảm bảo mối liên lạc giữa hàng thủ và hàng công, một trong 5 tiền đạo được bố trí đá lùi hơn. Với thành công của Arssenal, đội hình 3-3-4 trở nên phổ biến và thay thế đội hình 2-3-5, giờ đã rơi vào quên lãng.
Thực sự, ý tưởng này không phải của Chapman mà của Charlie Buchan. Việc đầu tiên Chapman quyết định sau khi đến với Arsenal là mua về Buchan từ Sunderland. Là một tiền đạo khôn ngoan, trước trận đấu mở màn mùa bóng 1925 -1926, Buchan đề xuất ý kiến, anh cho rằng Jack Butler, tiền vệ trung tâm của Arsenal nên được bố trí như một hậu vệ. Chapman không đồng ý .
Buchan lặp lại ý kiến đó tại các lần đội bóng thảo luận năm tuần trong suốt 5 tuần sau nhưng vẫn không thành công. Tuy nhiên, đầu tháng 10 năm 1925, Arsenal bị Newcastle đánh bại với tỉ số nặng nề là 7-0 tại St James's Park. Sau trận đấu, Buchan lớn tiếng: " Tôi muốn quay trở lại Sunderland. Tại đây tôi không được trọng dụng ". Chapman trả lời: " Ồ không, cậu sẽ chơi trong trận đấu tới gặp West Ham. Tôi biết cậu muốn gì chúng ta sẽ có một buổi họp đặc biệt để thảo luận về vấn đề đó".
Cuộc họp được tổ chức ngay sau trận đấu, tại khách sạn Newcastle và sau buổi thảo luận dài, Chapman cuối cùng đã đồng ý với sự thử nghiệm này. Họ thắng West Ham 4-0 tại Upton Park hai ngày sau đó và trở lại với cuộc đua tới chức vô địch. Đó là ý tưởng của Buchan, nhưng tuyệt vời hơn, nó đã được hoàn thiện và vận hành tốt dưới bàn tay của Chapman.
Thành công lớn đầu tiên của Arsenal là chiếc cúp FA năm 1930. Câu lạc bộ có một lối chơi nhanh, đẹp mắt kết hợp với chiến thuật hợp lí và năm sau, 1931 họ đã có chiếc cúp vô địch đầu tiên sau bao năm chờ đợi. Buchan lúc này đã giải nghệ, thay thế anh là David Jack, một chàng trai có những pha xử lí rất tinh tế và luôn ghi được những bàn thắng quan trọng. Cùng với anh là một lứa những cầu thủ tài năng thành danh dưới triều đại Herbert Chapman: Alex James, Joe Hulme, Cliff 'Boy' Bastin, Herbie Roberts, Tom Parker, George Male, Eddie Hapgood .... Arsenal tiếp tục vô địch năm sau, 1932.
Bomber
17-02-2008, 08:31 PM
Ông mất đột ngột vào tháng Giêng năm 1934, không kịp chứng kiến những chàng trai của mình đăng quang chức vô địch lần thứ 3 liên tiếp. Cũng như với Huddersfield Town, một lần nữa ông lại lỡ hẹn cùng Arsenal ăn mừng chiến thắng. Niềm vui đã không trọn vẹn.
Charles Buchan tin rằng, bí quyết sự thành công của Chapman chính là do ông luôn lắng nghe mọi người và có sự bàn luận nghiêm túc về những ý kiến của họ. Ông luôn muốn tìm ra những điều có lợi nhất cho đội bóng. Chapman tin tưởng vào hiệu quả của những buổi bàn luận tập thể, đặt ra buổi họp thường kì vào trưa thứ 6 hàng tuần. Khi đó đội bóng sẽ bàn về trận đấu đã qua và thảo luận về trận đấu sắp tới. Chapman đã nghĩ ra bảng mô hình sân bóng với những miếng nam châm di động để chỉ ra chính xác điều ông muốn từng cầu thủ cụ thể phải thực hiện thay vì vẽ trên bảng như hồi đó vẫn thường làm.
Thiên hướng, ý tưởng chiến thuật của Chapman được các cầu thủ thể hiện trên sân cỏ và người ta đặt tên cho nó là " Machine " ( guồng máy ). Danh từ này được biết đến lần dầu tiên năm 1910, khi ông dẫn dắt Northampton. Nó được nhắc lại tại Arsenal và đựoc miêu tả " thậm chí nếu thay đổi về mặt nhân sự, guồng máy vẫn có thể vận hành trơn tru ".
Chính Chapman là người mở ra một kỉ nguyên mới cho Arsenal, trở thành một câu lạc bộ lớn mạnh và được hâm mộ nhất Anh quốc. Có thể nói, mọi thành công mà Arsenal có được sau này đều xuất phát từ những nền móng hết sức vững chắc mà ông đã xây dựng. Người ta nhắc đến Chapman còn bởi những ý tưởng, phát minh đặc biệt của ông mà sau này dần dần trở nên phổ biến trong bóng đá hiện đại. Trong đầu ông luôn đầy ắp những tư tưởng mang tính cách mạng và không ít lần người ta phải sửng sốt trước tầm nhìn xa trông rộng của Chapman. Rât nhiều thử nghiệm đã được ông sử dụng, tuy nhiên Chapman làm việc không hề có sự mù quáng bởi trong ông là người có năng lực đặc biệt, có tầm nhìn cũng như sự linh hoạt trong việc xử lí các tình huống xảy ra. Sự xuất hiện của Herbert Chapman đã thực sự làm thay đổi lớn nền bóng đá Anh, ngọn cờ của bóng đá thế giới khi đó với hàng loạt những ý tưởng được áp dụng như chiến thuật, số áo cầu thủ, chơi bóng dưới ánh đèn cao áp, bóng màu trắng, sự chuyên nghiệp của câu lạc bộ ... Thật sự, những ý tưởng đó vẫn gây tranh cãi đến tận bây giờ nhưng thực tế có thể nhận thấy, sau cái chết của Chapman, không ai có thể vượt qua được cái bóng mà ông để lại, sự trì trệ của bóng đá Anh là một minh chứng rõ nét nhất. Trong khi rất nhiều người Anh cho rằng việc bổ sung thêm một hậu vệ, " stopper ", đã làm hỏng trận đấu thì người Hunggary đã chớp lấy ý tưởng đó và xây dựng nên một đội bóng quốc gia hùng cường những năm 1950.
Không thật khó giải thích các thành công của Chapman. Thứ nhất, ông luôn tìm tòi những gì có thể làm bóng đá trở nên hiệu quả hơn, bất kể các rào cản về mặt xã hội. Thứ hai, ông luôn quan tâm đến các nền bóng đá ở các quốc gia khác, đặc biệt ông là bạn rất thân của Hugo Meisl, chủ tịch liên đoàn bóng đá Áo.
Ở thời điểm đó, người Anh rất coi thường bóng đá lục địa. Tự hào về vai trò là những người sáng lập bóng đá, họ đặt mình vào vị trí độc tôn và không bao giờ thèm để mắt đến những quốc gia láng giềng khác. Trong khi đó Chapman trong suốt cuộc đời mình luôn đi tìm kiếm các ý tưởng và châu Âu lục địa cũng không bị ông loại trừ.
Năm 1909, ông dẫn Northampton sang Đức để thi đấu với Nuremburg FC và tháng 8 năm 1921, lúc này đội quân của ông là Huddersfield đánh bại nhà vô địch Pháp, Red Star tại Paris với tỉ số 2-0.
Cũng trong một lần sang Áo, ông được chứng kiến một trận bóng buổi tối của người dân địa phương, dưới ánh đèn pha của những chiếc ô tô! Ông mang ý tưởng đó về nước nhưng những người Anh bảo thủ từ chối ông. Ý nguyện của Chapman cuối cùng cũng được thực hiện bên ngoài biên giới Anh quốc, trong trận đấu giữa Bỉ và Hà Lan năm 1930.
Phải gần 20 năm sau nó mới được thực hiện tại Anh. Chapman cũng áp dụng những cuộc du đấu đó với Arsenal. Ông còn mơ đến một giải đấu giữa các đội vô địch của Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Scotland và Đức.
Năm 1933, bất chấp sự phản đối của nhiều quan chức, Chapman một cách không chính thức được giao nhiệm vụ dẫn dắt đội tuyển Anh trong chuyến du đấu tại Italy và Thụy Sĩ. Những chỉ bảo chiến thuật của ông trước trận đấu đã mang lại chiến thắng Thụy Sĩ 4-0, mặc dù khi đó Thụy Sĩ là một đối thủ đáng gờm. Sau đó là trận hòa 1-1 với đội tuyển Italia ngay tại Roma. Một năm sau, 1934 , Italia là nhà quán quân giải vô địch thế giới, tuy nhiên tháng 11 năm đó, với 7 cầu thủ Arsenal trong đội hình, đội tuyển Anh chứng minh cho mọi người thấy họ mạnh như thế nào bằng chiến thắng Italia 3 - 2 trong một trận đấu được ví như " the Battle of Highbury ".
Bóng đá Anh đi vào trì trệ sau cái chết của Chapman. Mặc dù vẫn được biết đến như một trong những nền bóng đá phát triển nhất nhưng thực tế nhiều nước khác đã bắt kịp và vượt qua họ. Đã có nhiều cố gắng nhưng không ai có thể thay thế được Herbert Chapman. Ông vừa là người đề xuất ý tưởng, vừa là người đi tiên phong, là động lực cho những cải cách. Tuy nhiên liên đoàn bóng đá Anh luôn bảo thủ và luôn từ chối những cố gắng của ông. Một phần tư thế kỉ trước khi đội tuyển Anh bị những người Hungary hạ nhục ngay tại thánh địa Wembley năm 1953, Chapman đã tiên đoán sự suy xuống dốc của bóng đá Anh nếu như họ tiếp tục phớt lờ những cải cách tiến bộ đang được tiến hành ở châu Âu lục địa.
Bomber
17-02-2008, 08:32 PM
Sam Hollis - Người thầy đầu tiên
Tên đầy đủ: Samuel W. Hollis
Sinh năm 1866 tại Anh quốc
Ngày mất: 17/4/1942, tại Nottingham, Anh
Sự nghiệp huấn luyện :
*1894-1897 : Woolwich Arsenal
*1897-99 : Briston City
*1901-05 : Briston City
*1911-13 : Briston City
*1913-17 : Newport County
Sam Hollis được biết đến nhiều nhất với vai trò là HLV đầu tiên của một Woolwich Arsenal chuyên nghiệp (CLB lên chuyên nghiệp vào năm 1891). Ông được đề bạt làm HLV (hay một secrectary-manager – ở đây secrectary là một chức vụ của câu lạc bộ đảm nhiệm việc thư tín và các công vụ nội bộ, vị trí mà ông được mọi người biết đến về sau này) của Woolwich Arsenal vào năm 1894. Trước đó những vấn đề của đội bóng được uỷ ban cầu thủ và thành viên câu lạc bộ tự giải quyết. Sam trước đó đã làm việc tại văn phòng pháp lý và bưu điện. Trong 3 năm ông ở câu lạc bộ, đội bóng có sự vững chắc nhưng tấn công không đẹp mắt và chỉ nằm ở vị trí giữa bảng xếp hạng của giải hạng 2.
4/1897, Sam đã bị lôi kéo đến câu lạc bộ vừa thành lập là Bristol City, ông thôi việc vào tháng 3/1899, rời đến Bedminster và trở thành thư tịch viên kiêm HLV cho câu lạc bộ này. Năm 1900 Bedminster hợp nhất với Bristol City và Sam thôi việc. Năm 1901 ông quay lại làm HLV cho Bristol City. Lần này ông đã có những khoảng thời gian thành công, câu lạc bộ đã về nhì tại giải Southern League và được thăng lên hạng Football League.
Ông rời CLB vào tháng 3/1905 và làm quản lí khách sạn từ năm 1905 đến 1911, sau đó tiếp tục điều hành một quán rượu từ 1899 đến 1909. Ông tiếp quản vai trò quản lí Bristol City lần thứ 3 vào 1/1911 và đã để câu lạc bộ tụt từ giải hạng nhất xuống hạng 2. Ông rời Bristol City 3/1913. Tháng 7 năm đó ông đảm nhận vai trò HLV đội bóng nghiệp dư Newport County và gắn bó đến năm1917. Sau đó ông giã từ bóng đá hoàn toàn. Ông mất tại Nottingham tháng 3/1942.
Bomber
17-02-2008, 08:32 PM
Thomas Mitchell - HLV chuyên nghiệp đầu tiên của Woolwich Arsenal
Tên đầy đủ: Thomas Brown Mitchell (1843 – 8/1921)
Nơi sinh: Dumfries, Scotland
Sự nghiệp huấn luyện :
*1884-1896 : Blackburn Rovers
*1897-1898 : Woolwich Arsenal
Mitchell sinh tại Dumfries nhưng đã chuyển xuống sống ở phía Nam biên giới vào năm 1867. Ông trở thành thư tín viên kiêm HLV cho Blackburn Rovers năm 1884 và dẫn dắt câu lạc bộ này đoạt cúp FA tới 5 lần từ năm 1884 đến năm 1891. Ông rời Blackburn năm 1896 để chuyển đến Woolwich Arsenal sau đó một năm.
Như vậy, ông được coi là HLV chính thức đầu tiên của Woolwich Arsenal sau khi CLB lên chuyên nghiệp (vào năm 1891), khác với Sam Hollis – người tiền nhiệm với chức vụ thư tịch viên kiêm huấn luyện. Tuy nhiên, ông chỉ ở trên cương vị đó 7 tháng, kết thúc hợp đồng tháng 3/1898 khi CLB đang đứng thứ 5 ở Giải hạng hai. Sau đó ông trở lại với Blackburn Rovers. Thomas Mitchell qua đời tại Blackburn năm 1921, thọ 78 tuổi.
Bomber
17-02-2008, 08:33 PM
Harry Bradshaw - cùng Arsenal tiến lên hạng Nhất
Tên đầy đủ: Harry Bradshaw
Sinh năm 1854, mất năm 1924
Nơi sinh: Anh quốc
Thời gian làm huấn luyện viên: 1896-1899
Sự nghiệp huấn luyện:
*1896-99 : Burnley
*1899-1904 : Woolwich Arsenal
*1904-09 : Fulham
Harry là nhà cầm quân người Anh, mặc dù bản thân ông chưa từng là cầu thủ chuyên nghiệp,nhưng ông từng được bổ nhiệm làm thư tịch viên của Burnley FC năm 1891 và trở thành chủ tịch 2 năm sau đó. Năm 1896 ông trở thành HLV của đội, và dù cho ngay mùa giải đầu tiên của ông ở Giải hạng Nhất, đội đã bị xuống hạng, xếp cuối bảng và thua trận playoff, nhưng họ đã lên hạng ngay mùa sau, trở lại tốp dẫn đầu và về vị trí thứ 3 (1898-1899), đó là vị trí tốt nhất trong lịch sử câu lạc bộ này.
Mùa hè năm 1899, Harry Bradshaw chuyển về miền Nam đến câu lạc bộ hạng hai Woolwich Arsenal, và cũng giống như đối với Burnley FC, sau một vài mùa giải thất bát ở gần cuối bảng xếp hạng, câu lạc bộ đã kết thúc ở vị trí thứ 2 vào mùa giải 1903-1904 và được thăng lên Giải hạng Nhất. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, câu lạc bộ được chơi lên chơi tại giải cao nhất của bóng đá xứ sở sương mù. Dẫu vậy nhưng ông chưa từng đưa câu lạc bộ lên được đến vị trí cao nhất, vì ông gia nhập giải Southern League (giải bán chuyên nghiệp) cùng với Fulham vào mùa hè năm 1904 và trở thành HLV chuyên nghiệp đầu tiên của câu lạc bộ này. Tại đây ông đã 2 lần đoạt chức vô địch ở giải Southern League và giành quyền lên chơi tại giải hạng hai vào cuối mùa giải 1906-1907. Ngay mùa đầu tiên thăng hạng, Fulham đã giành được thứ hạng cao và cán đích ở vị trí thứ 4, lọt vào bán kết cúp FA năm đó. Tuy nhiên họ không duy trì được vị thế của mình tại mùa giải sau và chỉ xếp ở vị trí ở vị trí thứ 10. Harry hết hợp đồng với Fulham sau mùa giải đó. Ông rời Fulham và trở thành thư kí của giải Southern League, vị trí mà ông nắm giữ cho đến khi nghỉ hưu năm 1921. Ông mất năm 1929.
Con trai ông - Joe Bradshaw, đã chơi bóng cho Woolwich Arsenal dưới thời bố mình và tiếp bước ông để trở thành HLV cho câu lạc bộ Fulham.
Bomber
17-02-2008, 08:34 PM
George Allison - người kế nhiệm Herbert Chapman
Tên đầy đủ: George Allison
Ngày sinh:12/1883
Nơi sinh: Darlington, County Durham, Anh.
Ngày mất: 13/3/1957
Nơi mất: London, Anh.
Huấn luyện viên Arsenal từ 1934 đến 1947.
Sự nghiệp huấn luyện:
*1934-1947 : Arsenal
George Allison là một nhà báo viết về bóng đá, bình luận viên trên đài phát thanh và là một huấn luyện viên.
Sinh ra tại Darlington, Allison bắt đầu viết báo tại quê hương (vùng Đông Bắc nước Anh) trước khi chuyển đến London vào năm 1905. Ông đã hợp tác với Woolwich Arsenal, và trở thành chủ bút viết những chương trình hoạt động, tuyên truyền cho câu lạc bộ. Ông tiếp tục hợp tác với đội sau khi họ chuyển tới Highbury và đổi tên thành Arsenal. Ông trở thành bình luận viên trận chung kết FA đầu tiên được phát thanh trên radio, đó là trận đấu giữa Arsenal và Cardiff City năm 1927.
Lúc đó ông đã là thành viên của hội đồng quản trị câu lạc bộ. Đầu tiên ông làm thư kí, sau đó làm giám đốc quản lí. Sau sự ra đi đột ngột của huấn luyện viên huyền thoại Herbert Chapman vào tháng 1 na9m 1934, ông đã được đề bạt là người kế nhiệm chính thức của Chapman vào mùa hè năm đó.
Sau Chapman và HLV tạm quyền Joe Shaw, ông cùng Arsenal chiến thắng tại League Championship (giải đấu danh giá nhất tại Anh lúc đó) vào 2 mùa liên tiếp (1932-33 và 1933-34). Ông đã biến nó thành 1 hat-trick khi giành danh hiệu thứ 3 liên tục vào mùa 1934-35. Ông cũng giành được cúp FA năm 1935-1936, và tiếp tục là League Cup một lần nữa vào mùa 1937-1938.
Ông đã xuất hiện rất nổi bật trong bộ phim có tên: Highbury, The Arsenal Stadium Mystery (Highbury, sân vận động huyền bí của Arsenal) vào năm 1939. Trong phim, ông đóng vai chính mình. Một trong những câu nói quen thuộc của ông vào lúc giữa hiệp là: "1-0 cho Arsenal, đó là điều mà chúng tôi thích". Câu nói đó đã hình thành xu hướng thắng với tỉ số 1-0 của Arsenal trong nhiều thập kỉ sau đó.
Allison không can thiệp vào vấn đề quản lí như người tiền nhiệm Chapman. Joe Shaw and Tom Whittaker chịu trách nhiệm về vấn đề huấn luyện và kỷ luật của đội, còn Allison tập trung vào các chính sách chuyển nhượng và mối quan hệ của câu lạc bộ với giới truyền thông. Cầu thủ Bernard Joy thuật lại chi tiết: "Ông ấy là người lịch thiệp, thân thiện và tốt bụng, nhưng hơi thiếu tầm nhìn trong việc mua bán cầu thủ cũng như sự hiểu biết về các cầu thủ chuyên nghiệp.” Những đề xuất và đóng góp của Allison đã mang về nhiều danh hiệu cho Arsenal, dù rằng đến cuối thập niên 30, Arsenal đã không còn là đội bóng lững lẫy như họ đã từng là. Allison đã không thể tìm được phương án thay thế những ngôi sao của đội trong nửa đầu thập kỷ, đặc biệt là Alex James.
Thế chiến thứ hai diễn ra, những trận đấu bóng đá của nước Anh bị gián đoạn. Sau khi kết thúc chiến tranh, rất nhiều cầu thủ đã góp công tạo nên thành công cho Arsenal như Cliff Bastin và Ted Drake lần lượt nghỉ hưu. Và Arsenal kết thúc một mùa giải 1946-1947 đáng thất vọng tại vị trí thứ 13. Allison lúc đó đã gần 65 tuổi và đã mệt mỏi với công tác huấn luyện, ông quyết định dừng chân và nghỉ hưu. Sau vài năm mắc bệnh, ông đã qua đời năm 1957, thọ 74 tuổi.
Bomber
17-02-2008, 08:35 PM
Tom Whittaker và những năm 30
Tên đầy đủ: Thomas James Whittaker
Ngày sinh: 21/7/1898 t ại Aldershot, Hampshire, Anh
Ngày mất: 24/10/1956 t ại London, Anh
Sự nghiệp cầu thủ:
*1919-1925 : Arsenal, thi đấu 70 trận, ghi được 2 bàn thắng
Sự nghiệp huấn luyện:
*1947-1956 : Arsenal
Thomas James Whittaker (MBE) là cầu thủ, huấn luyện viên người Anh, gắn bó hầu hết sự nghiệp với Arsenal
Whittaker sinh tại Aldershot, Hampshire nhưng lớn lên ở Newcastle upon Tyne (được biết với cái tên Newcastle) từ năm lên 3. Ông chơi bóng trong giai đoạn đầu sự nghiệp của mình ở Đông Bắc nước Anh khi đang học tập trở thành kĩ sư thủy quân lục chiến, sau này ông công tác ở chuyên môn này tại công ty Hawthorn & Leslie. Ông gia nhập quân đội Anh vào năm 1917, sau đó chuyển sang Hải quân Hoàng gia Anh và chơi bóng cho quân đoàn Pháo binh Hoàng gia. Sau khi phục vụ tổ quốc trong Thế chiến thứ nhất, Whittaker gia nhập Arsenal vào tháng 9 năm 1919, đầu tiên ông chơi ở vị trí trung phong sau đó thì dạt ra cánh. Ông ra mắt lần đầu tiên là trong trận đấu với West Bromwich Albion vào ngày 6 tháng 5 năm 1920. Từ đó, ông được thi đấu thường xuyên trong đội hình chính thức trong những năm 20, ông đã chơi 70 trận và ghi 2 bàn.
Năm 1925, tại một trận đấu ở Wollongong trong chuyến du đấu của Hiệp hội bóng đá Anh (FA) ở Úc, ông bị vỡ xương bánh chè và buộc phải treo giày.Vì muốn tiếp tục đeo đuổi niềm đam mê với trái bóng, ông tham gia khóa học về vật lí trị liệu và gia nhập đội ngũ các nhân viên quản lý của CLB. Sau đó ông trở thành chỉ đạo viên đầu tiên của Arsenal dưới quyền của huấn luyện viên Herbert Chapman vào năm 1927 (Khi đó ông vẫn còn trẻ hơn nhiều cầu thủ trên đường pitch). Whittaker đóng vai trò quan trọng đối với Chapman trong việc cải tiến cách tập luyện và chế độ điều trị bằng vật lí trị liệu ở câu lạc bộ. Ông là một phần rất quan trọng trong những thành công của câu lạc bộ trong thập niên 30.
Sau cái chết của Chapman năm 1934, Whittaker vẫn tiếp tục phục vụ người kế nhiệm, George Allison, và trở thành thành viên ban huấn luyện tuyển quốc gia Anh. Thế chiến thứ hai diễn ra, Whittaker hoạt động như một dân quân của tổ chức ARP, trước khi trở thành phi công của Không Lực Hoàng Gia và được đứng trong hàng ngũ Phi đoàn trưởng. Vì sự phục vụ của mình, ông được trao tặng danh hiệu Hiệp sĩ Đế chế Anh(MBE)
Kết thúc chiến tranh, Whittaker trở lại với công tác huấn luyện tại Arsenal. Sau khi Allison giải nghệ vào năm 1947, Whittaker trở thành huấn luyện viên mới của câu lạc bộ; dưới sự dẫn dắt của ông, câu lạc bộ đã đoạt chức vô địch quốc gia mùa bóng 1947-1948, 1952-1953 và chiếc cúp FA năm 1949-1950. Thế nhưng, thành công đã không đến với Arsenal trong những năm 50, Whittaker đã không thể đưa được ngôi sao nào đến với câu lạc bộ. Việc phải chịu quá nhiều trách nhiệm đã tác động rất xấu tới Whittaker. Ông qua đời trong một cơn đau tim tại London năm 1956, hưởng thọ 58 tuổi
Bomber
17-02-2008, 08:35 PM
Bertie Mee - Vinh quang sau 17 năm chờ đợi
Sinh năm 1912
Nơi sinh: Bulwell, Nottinghamshire, Anh quốc
Năm mất: 10/2001
Bertie Mee là một cầu thủ và HLV người Anh nổi tiếng vì là người đầu tiên giúp Arsenal đoạt được cúp đúp vào năm 1971.
Sinh ra ở Bulwell, Nottinghamshire, Mee chơi bóng cho Derby County và Mansfield Town nhưng thật không may, một chấn thương đã kết thúc sự nghiệp ngắn ngủi của ông. Ông gia nhập đội Quân y Hoàng gia và học tập trong 6 năm để trở thành 1 bác sĩ vật lí trị liệu với cấp bậc trung sĩ. Bertie tiếp tục trau dồi học vấn và đến Arsenal năm 1960 với tư cách một nhà vật lí trị liệu.
Năm 1966, phong độ của đội bóng đang hết sức tồi tệ, HLV khi đó là Billy Wright bị sa thải. Báo chí rầm rì về những cái tên ứng cử sáng giá nhưng ban lãnh đạo đã làm tất cả sửng sốt khi quyết định bổ nhiệm Bertie Mee vào cương vị đó. Thậm chí Bertie Mee cũng tỏ ra không tự tin, ông yêu cầu cho ông 12 tháng thử thách, nếu không thành công ông sẽ quay lại làm công việc trị liệu. Cũng phải nói rằng vào lúc đó kiến thức về bóng đá của ông là hết sức hạn chế, những năm tháng ngắn ngủi làm cầu thủ chỉ giúp ông có được những kinh nghiệm ít ỏi về kĩ thuật chơi bóng hơn là về tư duy chiến thuật, do đó ông tuyển Dave Sexton và Don Howe làm trợ lý cho mình.
Nhưng cũng chính vì vậy, chúng ta phải kính phục Bertie Mee về trí tuệ và sự khôn ngoan của ông. Khi ông tiếp quản đội bóng, Arsenal đã có 17 năm trời không biết đến vinh quang. Các cổ động viên đã mất hết kiên nhẫn và Bertie Mee phải chịu một sức ép rất lớn. Nhưng rồi dưới bàn tay của ông, lứa cầu thủ đoạt cúp FA giành cho đội trẻ năm 1966 như Charlie George, John Radford và Ray Kennedy bắt đầu cho thấy một tương lai đầy triển vọng. Arsenal tiến vào cả 2 trận chung kết League Cup năm 1968 và 1969, nhưng đều thất bại trước Leeds United và Swindon Town. Tuy nhiên ngay mùa sau, Mee đã đem về cho Arsenal chiếc cúp châu Âu đầu tiên, cũng là danh hiệu đầu tiên của đội sau 17 năm trời. Đó là cúp Inter-Cities Fairs. Arsenal đã đánh bại Anderlecht với tổng tỉ số 4-3 sau 2 lượt đi và về. Dù đã bị dẫn trước 3-0 ở lượt đi., nhưng các Pháo thủ đã thi đấu một trận xuất sắc trên sân Highbury để lật ngược thế cờ.
Fairs Cup chỉ là màn khởi động cho những kì tích thực sự sắp xảy ra, cú đúp huyền thoại (cúp FA và League Cup) năm 1971. Chức vô địch League Cup Arsenal giành được sau trận thắng đối thủ truyền kiếp Tottenham Hotspur trên sân White Hart Lane trong ngày cuối cùng của mùa giải, chỉ 5 ngày sau Arsenal tiếp tục hạ Liverpool với tỉ số 2-1 trên sân Wembley sau khi hết 2 hiệp phụ, bàn thắng được ghi do công của Charlie George. Bàn thắng này chính thức hoàn tất cú đúp lịch sự dưới thời Bertie Mee.
Bertie Mee là một người có tài tổ chức, một nhà tâm lí tài giỏi và cũng rất coi trọng kỉ luật. Trong đội bóng ông đề ra chế độ thưởng phạt rất rõ ràng, nhờ vậy có thể quản lí tốt các cầu thủ trẻ. Có một câu chuyện kể rằng, trong kì nghỉ hè ở đảo Síp, các cầu thủ bị buộc phải dùng kem chống nắng khi tắm nắng, nếu ai không dùng mà để bị bỏng da sẽ bị phạt 50 bảng!
Thực tế, Bertie Mee chỉ coi mình là người nhỏ bé trong một câu lạc bộ khổng lồ. Ông không thể sánh với HLV huyền thoại Herbert Chapman nhưng điểm chung giữa hai người là phong cách làm việc hiệu quả, mang lại những thành công thiết thực cho câu lạc bộ. Nếu Chapman là người tạo nên một Arsenal hùng mạnh thì Bertie Mee lại là người cứu giúp danh dự câu lạc bộ, đưa đội bóng kiêu hãnh từ bóng tối trở lại hào quang chiến thắng. Trong 10 năm dẫn dắt Arsenal, ông cùng câu lạc bộ có được mùa bóng 1970-1971 tuyệt vời với cú đúp đầy ấn tượng, ngoài ra có tới 6 mùa giải Arsenal xếp thứ nhất hoặc thứ nhì trên bảng xếp hạng.
Đối với nhiều người, kỉ niệm ấn tượng nhất về ông là khi Arsenal đánh bại đối thủ truyền kiếp Tottenham để giành chức vô địch năm 1971. Có lẽ đó là lần duy nhất ông rũ bỏ vẻ lạnh lùng “phớt Ăng lê” để buông thả trong niềm vui chiến thắng. Các cầu thủ nhớ lại, ông đã xé toạc chiếc áo đang mặc, vừa reo hò vừa nhảy múa không ngừng trong phòng thay đồ.
Tuy nhiên. Arsenal của Bertie Mee đã không thể duy trì thành công. Họ để thua Leeds trong trận chung kết League Cup năm 1972, và dần dần tụt xuống giữa bảng xếp hạng một cách khó hiểu. Mee chính thức tuyên bố từ chức HLV của Arsenal vào năm 1976. Sau đó ông về với Watford làm trợ lý cho Graham Taylor năm 1978, và sau này trở thành giám đốc của CLB này.
Mee được trao tặng huân chương OBE năm 1984 vì những cống hiến của ông cho bóng đá. Ông qua đời năm 2001 tại London, thọ 82 tuổi
Bomber
17-02-2008, 08:36 PM
George Graham
Ngày sinh: 30.11.1944
Nơi sinh : Bargeddie, Lanarkshire, Scotland
Câu lạc chuyên nghiệp
Năm _ CLB _ Số trận (bàn thắng)
1961-64 Aston Villa 8(2)
1964-66 Chelsea 72(35)
1966-72 Arsenal 227(60)
1972-74 MU 43(2)
1974-76 Portsmouth 61(5)
1976-77 Crystal Place 44(2)
Đội tuyển quốc gia
1971-73 Scotland 12 (3)
Sự nghiệp huấn luyện
1983-86 Millwall
1986-95 Arsenal
1996-98 Leeds United
1998-2001 Tottenham Hotspur
Sự nghiệp cầu thủ
Mặc dù là người Scotland nhưng Graham chơi bóng hoàn toàn ở Anh. Ông kí hợp đồng với Aston Villa năm 1961 khi vừa bước sang tuổi 17. Trong 3 mùa ở đây, ông chỉ được ra sân 8 lần, và một trong những lần đó là trận thua Birmingham City trong trận chung kết League cup năm 1963.
Tháng 7 năm 1964, Chelsea bỏ ra 5 nghìn bảng để đem Graham về. Ông đã ghi 35 bàn trong 72 trận cho CLB và đã giành League Cup. Nhưng cùng với một vài cầu thủ khác của Chelsea, ông đã có mâu thuẫn sâu sắc với HLV có tâm tính thất thường Tommy Docherty. Sự việc lên tới đỉnh điểm khi Graham và 7 cầu thủ khác đã không tuân theo lệnh giới nghiêm trước trận đấu vào năm1965 và đã bị Docherty kỉ luật. Sau đó Graham được bán cho Arsenal của huấn luyện viên Bertie Mee với giá 75 nghìn bảng, cộng thêm Tommy Baldwin một năm sau đó. Ông bắt đầu với vị trí trung phong,nhưng sau đó lùi về sau với vai trò hộ công. Graham là một phần quan trọng trong cú đúp mùa giải 1971 (và đã ghi bàn mở tỉ số cho Arsenal trong trận chung kết FA Cup với Liverpool), nhưng việc Alan Ball chuyển đến đã chiếm mất vị trí chính thức của ông và Graham đã chuyển đến MU với giá 120 nghìn bảng vào tháng 12 năm 1972.
Ông thi đấu cho MU trong 2 năm và là đội trưởng khi CLB này bị xuống chơi ở giải hạng Hai. Sau đó, ông có một khoảng thời gian nằm gai nếm mật tại Portsmouth và Crystal Palace trước khi chuyển sang chơi cho CLB California Surf ở Mĩ nhưng chỉ trong một mùa hè ngắn ngủi. Graham đã có 12 lần vinh dự khoác áo đội tuyển Scotland.
Sự nghiệp huấn luyện
Sau khi nghỉ chơi bóng, ông trở thành HLV tại Crystal Palace và sau đó là Queens Park Rangers. Ngày 6 tháng 12 năm 1982 ông được bổ nhiệm chức vụ HLV cho Millwall, lúc này đang xếp cuối bảng ở Division 3. Ông cùng với Millwall trụ hạng thành công và được thăng hạng vào mùa bóng 1985. Sau đó, Arsenal mời ông quay lại giữ chức HLV vào ngày 14 tháng 5 năm 1986. Arsenal đã không có danh hiệu nào kể từ năm 1979, nhưng Graham đã nhanh chóng tạo nên nhiều thay đổi ở CLB, giành 2 League Championships (cúp do Coca Cola tổ chức, danh giá chỉ sau cúp Premier League), 2 League Cup, một FA Cup và European Cup Winners Cup trong 8 năm, làm cho Arsenal trở thành một trong những đội có tên tuổi vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90.
Ông được ca ngợi vì công lao đem về những cầu thủ sáng giá cho Arsenal như David Seaman, Nigel Winterburn, Lee Dixon và Ian Wright. Tuy ông cũng đã có những bản hợp đồng thất bại như Eddie McGoldrick, Glenn Helder và Pal Lydersen. Nổi bật là John Jensen vì dính dáng đến vụ scandal hối lộ, kết quả là việc Graham bị sa thải vào ngày 21 tháng 2 năm 1995. Người ta đã phát hiện ông nhận 425 nghìn bảng Anh tiền hối lộ từ một nhân viên người Na Uy tên Rune Hauge để đem Lydersen và John Jensen về Arsenal. Vì sự việc này, ông bị liên đoàn bóng đá Anh cấm tham gia các hoạt động bóng đá trong vòng 1 năm.
Graham quay trở lại làm huấn luyện viên bóng đá với CLB Leeds United vào tháng 9 năm 1996. Mặc dù Leeds là đội bóng ghi bàn ít nhất tại Premiership (28 bàn), nhưng họ vẫn kết thúc khá vững chắc ở vị trí thứ 13. Mùa 1997-1998 Leeds đạt vị trí thứ 5 tại Premiership và đủ tư cách tham dự cúp UEFA.
Vào tháng 10 năm 1998, sau 2 năm gắn bó với Leeds, Graham được mời làm huấn luyện viên cho Tottenham Hotspur. Chỉ 5 tháng sau khi lên nắm quyền, ông đã đưa CLB vượt qua Leicester City trong trận chung kết League Cup và giành một suất tham dự cúp UEFA. Nhưng Spurs đã không duy trì được phong độ tốt này, và ông đã bị sa thải vào tháng 3 năm 2001, sau khi CLB này rơi vào tay ông chủ mới Daniel Levy. Mặc dù đã đưa CLB đến chiếc cúp đầu tiên sau 8 mùa giải, Graham vẫn không được một số lượng lớn cổ động viên yêu thích vì vai trò quan trọng trước đây của ông tại Arsenal, đối thủ truyền kiếp của Tottenham. Ông chấm dứt sự nghiệp huấn luyện tại đây và tập trung vào công việc làm bình luận viên bóng đá cho kênh thể thao Sky Sports.
Thành tích khi còn là cầu thủ
Aston Villa
* League Cup(về thứ nhì) năm 1963
Chelsea
* League Cup(vô địch) năm 1965
Arsenal
* League Cup(về thứ nhì) năm 1968
* League Cup (về thứ nhì) năm 1969
* Inter-Cities Fairs Cup (vô địch) năm 1970
* League Championship 1971
* FA Cup (vô địch) năm 1971
* FA Cup(về thứ nhì) năm 1972
Thành tích huấn luyện viên
Millwall
Lên từ hạng 3 năm 1985
Arsenal
* League Cup (vô địch) năm 1987
* League Cup (về thứ nhì) năm 1988
* League Championship 1989
* League Championship 1991
* FA Cup (vô địch) năm 1993
* League Cup (vô địch) năm 1993
* European Cup Winners Cup (vô địch) năm 1994
Tottenham Hotspur
* League Cup (vô địch) năm 1999
Bomber
17-02-2008, 08:37 PM
Ted Drake - Tay săn bàn bẩm sinh
Tên đầy đủ: Edward Joseph Drake
Ngày sinh: 16/8/1912 tại Southampton, Anh
Ngày mất: 30/5/1995
Thi đấu chuyên nghiệp
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1931-34 Southampton 72 (48)
1934-45 Arsenal 167 (124)
Tuyển quốc gia Anh 1934-38 5 (6)
Sự nghiệp huấn luyện
1946-47 Hendon
1947-52 Reading
1952-61 Chelsea
Edward Joseph "Ted" Drake (16/8/1912 - 30/5/1995) là cầu thủ cricket, bóng đá và huấn luyện viên người Anh.
Sự nghiệp thi đấu
Sinh ra tại Southampton, Drake bắt đầu thi đấu cho Winchester City trước khi đến với bóng đá chuyên nghiệp và gia nhập Southampton vào năm 1931. Là một trung phong có nhiều bàn thắng, ông lập hattrick cho the Saints ngay trong trận ra mắt và ghi tổng cộng 48 bàn thắng trong 72 trận đã đấu. Ông cũng thi đấu cho đội cricket Hampshire County trong giải cricket của vùng.
Drake chuyển tới Arsenal vào tháng 3/1934 với mức phí chuyển nhượng 6.500 bảng, và ông ghi bàn ngay trong trận ra mắt ở giải vô địch quốc gia trước Wolves. Tuy tham gia quá muộn trong chiến dịch đoạt chức vô địch quốc gia mùa bóng 1933-34, Drake đã dành ngay danh hiệu đó vào mùa giải tiếp theo, sau khi có màn trình diễn đặc sắc, ghi 42 bàn thắng trong 41 trận. Thêm 2 bàn thắng ở FA Cup và Charity Shield, Drake đã ghi tới 44 bàn thắng trong mùa bóng đó, một kỉ lục cho đến tận ngày nay.
Mùa tiếp theo, Drake ghi tới 7 bàn thắng trong trận gặp Aston Villa ngay tại Villa Park vào ngày 14/12/1935, một kỉ lục vẫn đứng vững ở câu lạc bộ. Drake tiếp tục đoạt FA Cup mùa bóng 1935-36 và chức vô địch quốc gia mùa bóng 1937-38. Thế chiến thứ hai đã hạn chế phần nào sự nghiệp của Drake, mặc dù ông đã phục vụ tốt trong Không lực Hoàng gia và được trở lại Arsenal trong thời chiến. Tuy nhiên, sự nghiệp của Drake không thể kéo dài trong thời bình; một chấn thương ở cột sống vào năm 1945 đã buộc ông phải giải nghệ. Với 139 bàn thắng trong 184 trận đấu, ông đứng thứ 5 (cùng với Jimmy Brain) trong danh sách những chân sút xuất sắc trong mọi thời đại của Arsenal, được đưa ra năm 2006. Ông cũng đã 5 lần khoác áo tuyển Anh, ghi 6 bàn và là một trong 7 cầu thủ Arsenal chơi cho đội Anh tại Highbury trong trận gặp Italy vào tháng 11/1934.
Sự nghiệp huấn luyện
Sau khi từ giã nghiệp cầu thủ, Drake huấn luyện Hendon năm 1946, và tiếp đó là Reading từ năm 1947. Ông đưa câu lạc bộ tới vị trí á quân Division Three South mùa bóng 1951-52, lúc đó chỉ đội vô địch mới được thăng hạng. Ông nhận nhiệm vụ dẫn dắt câu lạc bộ ở giải hạng nhất Chelsea vào năm 1952.
Sự có mặt của Drake tại Chelsea đã đem lại một loạt thay đổi, phá hợp đồng với các cầu thủ nghiệp dư, bỏ phòng hòa nhạc. Ông đã loại bỏ những người được nhận lương hàng đầu của câu lạc bộ Chelsea với những biệt danh của họ, và quả quyết rằng người mới cũng được chấp nhận. Từ những chuyển biến ấy ra đời tấm huy hiệu "Lion Rampant Regardant" và biệt danh Blues. Ông giới thiệu cho những chuyên gia tìm kiếm những báo cáo, tin tức, chế độ huấn luyện với bóng, một phương pháp thực nghiệm khá mới mẻ tại Anh lúc bấy giờ. Chính sách trước đây về việc tuyển mộ những cầu thủ tên tuổi tỏ ra kém hiệu quả và bị hủy bỏ; Drake đã sử dụng những hiểu biết của ông từ những giải đấu hạng thấp hơn và sân đấu nghiệp dư để tuyển mộ những người ít tên tuổi nhưng lại hiệu quả, đáng tin cậy hơn như John McNichol, Frank Blunstone, Derek Saunders, Jim Lewis và Peter Sillett.
Trong 3 năm, ở mùa giải 1954-55, Drake đã dẫn dắt Chelsea tới chức vô địch quốc gia duy nhất của họ trong thế kỉ 20. Với việc đó, ông đã trở thành người đầu tiên đoạt chức vô địch quốc gia trên cả cương vị cầu thủ và huấn luyện viên. Thế nhưng, Drake không bao giờ có thể thành công trở lại. Danh hiệu vô địch quốc gia dần dần tan bị lãng quên, do những thay đổi gây ra bởi các cầu thủ của đội trẻ như Jimmy Greaves, Peter Brabrook và Bobby Tambling, những người mà Drake đã đưa ra khỏi sơ đồ chiến thuật của mình. Sau những màn trình diễn thất thường, câu lạc bộ tụt xuống giữa bảng xếp hạng; sau trận thua ở vòng 4 FA Cup trước Crewe Alexandra năm 1961, điều gì phải đến cũng đã đến, Drake đã bị sa thải ngay trong mùa bóng 1961-62 .
Sau khi rời Chelsea, ông trở thành huấn luyện viên đội hai Fulham (nơi con trai ông, Bobby, đang thi đấu), sau đó là giám đốc và chủ tịch của sân Cottagers.
Drake mất năm 1995 ở tuổi 82.
Bomber
17-02-2008, 08:37 PM
George Armstrong - Thế hệ vàng những năm 70
George "Geordie" Armstrong (9/8/1944 – 1/11/2000) là cố cầu thủ và huấn luyện bóng đá người Anh, gắn bó phần lớn sự nghiệp với Arsenal.
Sinh ra tại Hebburn, County Durham, Armstrong từng là một thợ điện trong lúc vấn tham gia chơi bóng, trước khi gia nhập đội trẻ Arsenal vào tháng 8/1961. Thuở ban đầu ông là một tiền đạo nhưng sau đó được cố định ở cánh. Ông có trận ra mắt không lâu sau khi gia nhập câu lạc bộ ở tuổi 17, trong trận gặp Blackpool vào 24/2/1962 (Arsenal đã thắng 1-0). Mặc dù bắt đầu trong vai trò học hỏi Johnny MacLeod và Alan Skirton, nhưng đến mùa giải 1963-64, ông đã trở thành cầu thủ chính thức. Mùa bóng 1964-65 ông chỉ bỏ lỡ có 2 trận.
Trong sự nghiệp lâu dài với Gunners, Armstrong đã trở thành một trong những tượng đài lớn nhất, người được nhắc đến với những phẩm chất và sự chính xác trong những pha đột biên và đá phạt góc, và là một cầu thủ chạy cánh không biết mệt mỏi. Đầu tiên ông chơi bên cánh trái, nhưng lại tỏ ra đặc biệt hiệu quả ở bên phải. Với sự trưởng thành của mình, ông trở thành một trong vài cầu thủ dưới kỉ nguyên Billy Wright (cùng với Jon Sammels và Peter Storey) trở thành một phần quan trọng trong thành công của Wright cũng như người kế nhiệm Bertie Mee ở Arsenal, kết thúc một thời kì dài khát danh hiệu.
Sau khi không thành công trong các trận chung kết League Cup mùa bóng 1967-68 và 1968-69, Armstrong đã giúp Gunners vô địch Inter-Cities Fairs Cup mùa bóng 1969-70 và cú đúp vô địch quốc gia - FA Cup năm 1970-71. Armstrong đã trực tiếp góp công trong cú đúp của đội năm đó, chuyền bóng cho Ray Kennedy đánh đầu ghi bàn trong trận gặp Tottenham Hotspur, sau trận đấu đó Arsenal đã giành chức vô địch quốc gia. Ông được bầu là Player of the Year của Arsenal trong năm 1970.
Armstrong vẫn ở lại câu lạc bộ trong những năm 70, khi Arsenal thất bại trong tất cả các mặt trận sau cú đúp của họ. Ông chơi ít nhất 30 mỗi mùa trong cả thập kỉ. Ngoài ra, sau khi bị gạt ra bởi người kế nhiệm cho, Terry Neill, ông chuyển đến Leicester City trong mùa hè năm 1977 với giá 15.000 bảng. Ông chỉ chơi 14 trận ở League trong mùa bóng duy nhất cho Foxes và kết thúc sự nghiệp với Stockport County trước khi giải nghệ vào năm 1979.
Dành tới 15 mùa bóng chơi cho Arsenal, nhiều nhất trong lớp cầu thủ lúc đó, Armstrong ở thời điểm đó đã lập kỉ lục câu lạc bộ về số trận đã đấu - với 621 trận cho đội một, bao gồm đúng 500 trận ở giải vô địch quốc gia. Kỉ lục của ông sau đó đã bị phá bởi David O'Leary và Tony Adams. Ông cũng từng ghi được 68 bàn thắng cho Arsenal. Điều đáng ngạc nhiên với một cầu thủ đẳng cấp cao như thế, ông chưa bao giờ được khoác áo tuyển Anh, mặc dù đã thi đấu ở đội trẻ và đội U21 nước Anh; cũng bởi vì chiến thuật của huấn luyện viên tuyển Anh Sir Alf Ramsey là không sử dụng cầu thủ chạy cánh.
Sau khi từ giã sự nghiệp, Armstrong chuyển sang công tác huấn luyện và làm việc ở nhiều câu lạc bộ khác nhau, bao gồm Fulham, Aston Villa, Middlesbrough và QPR cũng như Narvik của Nauy. Năm 1990 ông trở lại Arsenal để huấn luyện đội hai, công việc mà ông đã làm trong phần đời còn lại, mặc dù rất nhiều huấn luyện viên đã phải ra đi đột ngột. Vào ngày 31/10/ 2000, Armstrong đã gục xuống sau một cơn xuất huyết não trong khi đang hướng dẫn tập luyện ở câu lạc bộ. Ông qua đời trong bệnh viện vào sáng sớm hôm sau.
Bomber
17-02-2008, 08:38 PM
Jon Sammels - Thế hệ vàng những năm 70
Sinh ngày 23/7/1945 tại Anh
Chơi tại Arsenal từ mùa giải 1962/63 đến 1974/75
Jon Sammels là mẫu cầu thủ tận tụy và có phần trầm lặng, tuy nhiên ông rất được các cổ động viên yêu quý. Ngay trong trận đấu đầu tiên cho Arsenal, ông đã ghi bàn vào lưới Blackpool. Một sự khởi đầu tuyệt vời, người ta nhận thấy ngay ông sẽ là người kế tục George Eastham, đảm nhiệm vai trò dẫn dắt trận đấu. Có kĩ thuật, khéo léo, thuận cả hai chân với nhãn quan chiến thuật rất tốt, ông đã thỏa mãn sự kì vọng của các cổ động viên.
Jon Sammels góp công lớn vào chiến thắng đầu tiên của Arsenal ở đấu trường châu Âu vào năm 1970 với những bàn thắng quan trọng. Tuy nhiên trong mùa bóng lịch sử 1970-1971, ông gặp phải chấn thương và phải ngồi ngoài phần lớn thời gian. George đảm nhiệm vị trí của ông. Nếu phải so sánh hai người thì George uyển chuyển hơn, không chiến tốt hơn nhưng bù lại Jon năng nổ hơn và cũng không kém phần tinh tế. Mùa giải 71-72 ông chuyển sang đá cho Leicester City và kết thúc sự nghiệp ở đây.
Bomber
17-02-2008, 08:38 PM
Frank McLintock - Thế hệ vàng những năm 70
Frank McLintock, Tước hiệu Hiệp sĩ (Sinh ngày 28/12/1939) là cựu cầu thủ bóng đá người Scotland.
Sinh ra tại Glasgow và lớn lên tại Gorbals, McLintock bắt đầu sự nghiệp ở vị trí tiền vệ tại Leicester City, ông có trận ra mắt năm 1959. Ông đã có 7 mùa bóng tại sân Filbert Street, lọt vào chung kết FA Cup 2 lần (1961 và 1963) và một chung kết League Cup (1964), nhưng đó là một chuỗi thất bại trong cả 3 cơ hội. Ông kí hợp đồng với Arsenal vào tháng 10/1964 và được đưa lên đội một.
McLintock dành cả 9 mùa bóng sau đó cho Gunners, chuyển từ vị trí tiền vệ về đá trung vệ. Ông được đeo băng đội trưởng Arsenal từ năm 1967. Ông cũng tham gia 2 trận chung kết League Cup nữa (lại thua cả hai trận). Vỡ mộng, ông yêu cầu được chuyển nhượng vào năm 1969. Ông được huấn luyện viên Bertie Mee thuyết phục ở lại, và sự thay đổi từ con tim đó đã mang lại phần thưởng xứng đáng, đội trưởng McLintock của Arsenal đã đoạt được Inter-Cities Fairs Cup năm 1970 và sau đó đã đoạt cú đúp đầu tiên năm 1971 (Vô địch quốc gia và FA Cup); cũng năm đó ông đã được trao danh hiệu Football Writers' Association Footballer of the Year. ( Giải cầu thủ của năm của hiệp hội các cây bút viết về bóng đá).
McLintock dẫn dắt Arsenal tới trận chung kết tại Wembley lần thứ 6 vào năm 1972 (trận đó, họ đã thua Leeds), và vị trí á quân tại Giải hạng nhất (cũ) năm tiếp theo, trước khi bị đưa sang câu lạc bộ QPR vào tháng 6/1973. Ông đã có 4 mùa bóng cùng the Hoops, và góp phần đưa đội bóng đi dự UEFA Cup sau khi đứng sau Liverpool vào năm 1976. Ông giải nghệ năm 1977. Tổng cộng, ông đã chơi hơn 700 trận, trong đó có 403 trận cho Arsenal, ông cũng có 9 lần khoác áo Scotland. Ông đã được phong tước Hiệp sĩ vào năm 1972.
Sau khi giải nghệ, ông không mấy thành công trong sự nghiệp huấn luyện ở câu lạc bộ cũ Leicester, và sau đó là ở Brentford, cuối cùng là huấn luyện viên của Millwall, giúp câu lạc bộ lên Division One (giải đấu cũ). Ông cũng có thêm thành công trong sự nghiệp ở vai trò dẫn chương trình nấu ăn, bình luận viên cho đài BBC Radio, và gần đây nhất là cho Sky Sports.
Bomber
17-02-2008, 08:38 PM
Pat Rice - Thế hệ vàng những năm 70
Tên đầy đủ: Patrick James Rice
Ngày sinh: 17/3/1949
Nơi sinh: Belfast, Bắc Ireland
Cương vị hiện tại: Trợ lí huấn luyện viên
Thi đấu chuyên nghiệp*
Năm Câu lạc bộ Số trận (bàn thắng)
1964-80 Arsenal 528 (?)
1980-84 Watford 137 (?)
Tuyển quốc gia
1968-79 Bắc Ireland 49 (?)
Sự nghiệp huấn luyện
1984-96 Arsenal (huấn luyện viên tuyển trẻ)
9/1996 Arsenal (huấn luyện viên tạm quyền)
1996-nay Arsenal (trợ lí huấn luyện viên)
* Số trận và bàn thắng cho câu lạc bộ ở giải trong nước.
Patrick James Rice (sinh ngày 17/3/1949 tại Belfast) là cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Bắc Ireland. Ông đang là trợ lí huấn luyện viên ở Arsenal.
Pat Rice đã dành hầu hết sự nghiệp đá bóng của mình ở Arsenal. Mặc dù sinh ra tại Belfast, ông lại lớn lên ở London và gia nhập đội trẻ Gunners vào năm 1964. Ông được ra mắt câu lạc bộ ở League Cup trong trận đấu với Burnley vào ngày 5/12/1967. Chơi hậu vệ phải, ông là một cầu thủ đầy nhiệt huyết tại câu lạc bộ trong những năm 70 của thế kỉ trước, và sau đó trở thành đội trưởng câu lạc bộ. Rice đoạt Inter-Cities Fairs Cup năm 1970 và cú đúp năm 1971 với chức vô địch quốc gia và FA Cup; tổng cộng ông đã tham dự 5 trận chung kết FA Cup nhưng chỉ dành 2 chiến thắng (1971 và 1979).
Rice đã chơi tổng cộng 528 trận cho the Gunners trước khi chuyển sang Watford năm 1980. Ông cũng đã chơi 137 trận cho the Hornets, đưa câu lạc bộ thăng hạng First Division và trở thành đội trưởng trước khi giải nghệ vào năm 1984. Rice đã có 49 trận khoác áo tuyển quốc gia Bắc Ireland từ năm 1968 tới năm 1979.
Rice trở lại Arsenal vào năm 1984 để làm huấn luyện viên đội trẻ, công việc mà ông đã làm trong suốt 12 năm sau đó, vô địch FA Cup giành cho đội trẻ hai lần vào năm 1988 và 1994. Tháng 9/1996 Rice được bổ nhiệm làm huấn luyện viên tạm quyền sau sự ra đi của Stewart Houston (người là huấn luyện viên tạm quyền sau khi Bruce Rioch bị sa thải). Ông đã chỉ đạo 3 trận ở FA Premier League (Arsenal toàn thắng) và một thất bại 3-2 ở UEFA Cup trên sân của Borussia Mönchengladbach. Sau khi Arsène Wenger trở thành huấn luyện viên vào cuối tháng đó, Rice trở thành trợ lí của Wenger, và trở thành chìa khóa cho thành công của câu lạc bộ trong những năm 90 của thế kỉ trước và những năm đầu thế kỉ 21, trong đó bao gồm cú đúp mùa bóng 1997-98 và 2001-02. Ông nắm giữ sự khác biệt (cùng với Bob Wilson) trong thành công của câu lạc bộ, ở cương vị cầu thủ lẫn huấn luyện viên, trong cả 3 cú đúp của Arsenal.
Bomber
17-02-2008, 08:39 PM
Charlie George -Thế hệ vàng những năm 70
Sinh ngày 10/10/1950 tại Anh
Chơi tại Arsenal từ mùa giải 1966/67 đến 1974/75
Người hâm mộ luôn có thể rộng lòng với những cầu thủ xuất sắc nhưng bất kham trên sân cỏ. Charlie George là một ví dụ. Tài năng kiệt xuất đi liền với sự nghênh ngang đầy thách thức, người biến những giấc mơ trở thành hiện thực và luôn khắc sâu hình ảnh Arsenal trong tim.
Ngay từ khi còn nhỏ Charlie George đã nhiều lần đến sân Highbury để xem các Pháo thủ thi đấu. Ông say mê các trận đấu của Arsenal và luôn mong muốn có ngày trở thành cầu thủ ngôi sao. “Born to be the King of Highbury” (Sinh ra để làm vua trên sân Highbury), đó là sự ngưỡng mộ mà các cổ động viên Arsenal dành cho Charlie George.
George là duy nhất. Không điều gì có thể khiến ông sợ hãi. “Tôi không phải là người yếu đuối. Tôi không bao giờ cảm thấy lạc lõng và có thể hòa nhập rất nhanh với mọi người. Khi còn nhỏ, tôi thường chơi bóng với các anh lớn hơn, điều đó khiến tôi tự tin và chấp nhận mọi thách thức. Tôi luôn có niềm tin vào bản thân, sẽ không có điều gì mà tôi không làm được với trái bóng. Đó là phương châm sống của tôi!”
Frank McLintock, thủ quân của Arsenal mùa giải 70-71 nhớ lại: “Nếu George không ưa người nào, anh ta sẽ nói thẳng ra điều đó. Không bao giờ đánh mất vẻ nghênh ngang và rất thẳng thắn, trực tính, điều đó khiến George trở thành một cầu thủ đặc biệt”.
Đồng đội có thể bỏ qua cho Charlie George bởi trên sân cỏ ông luôn chứng tỏ giá trị phi thường của mình. Thi đấu với thái độ khá hờ hững nhưng với cặp mắt tinh tường, những bước chạy nước rút thần sầu, ông nhanh chóng bắt đối phương phải trả giá bằng những pha kết thúc lạnh lùng. Charlie George có điệu bộ nhàn nhã, những cú bắt vô lê chính xác và rất mạnh cộng với kĩ thuật cá nhân hoàn hảo. Don Howe, huấn luyện viên phó của Arsenal khi đó nói: “Ngày nay chúng ta thán phục Zola, Cantona, Bergkamp... nhưng 30 năm trước, Charlie George tuyệt vời không kém. Anh ấy là một tay săn bàn bẩm sinh đồng thời là cầu nối quan trọng giữa hàng công và tuyến phòng thủ.”
Tôi có thể chơi được ở nhiều vị trí – George nói – Đó không phải là vấn đề. Với tôi đá bóng chỉ là một trò chơi. Hãy đưa tôi quả bóng và tôi sẽ làm bất cứ điều gì bạn muốn, tại bất cứ nơi nào.”
Bomber
17-02-2008, 08:40 PM
Liam Brady - Thế hệ vàng những năm 70
Tên đầy đủ: Liam Brady
Sinh ngày 13/2/1956 tại Dublin, Ireland
CLB hiện tại Arsenal (Trưởng hệ thống Đào tạo cầu thủ trẻ)
Sự nghiệp cầu thủ
Đội trẻ :St. Kevin's Boys FC
Thi đấu chuyên nghiệp*
1973-1980 Arsenal
1980-1982 Juventus
1982-1984 Sampdoria
1984-1986 Internazionale
1986-1987 Ascoli
1987-1990 West Ham United
Đội tuyển quốc gia Cộng hòa Ireland (1974-1989) đá 72 trận (9 bàn)
Sự nghiệp huấn luyện
1991-1993 Celtic
1993-1995 Brighton & Hove Albion
Những cầu thủ từng chơi cho Arsenal, đa số đều không muốn nhắc tới giải Serie A. Đơn giản vì họ đều thất bại khi thi đấu tại đó như Platt, Bergkamp, Henry, Kanu... Chỉ có duy nhất Brady là thành công trên đất Italia sau thời gian chơi cho Arsenal. Cho tới ngày nay Ireland mới có cầu thủ thứ hai chơi bóng tại Serie A là Robbie Keane.
Brady là của hiếm với bóng đá Ireland nói riêng và của nền bóng đá kiểu Anh nói chung. Ông chơi khá kỹ thuật và có những cú sút chân trái siêu đẳng. Năm 1971, khi mới 15 tuổi, Brady tới Highbury và chỉ một thời gian ngắn sau đó quanh London đã rộ lên cái tin rằng Arsenal đã có trong tay một của hiếm.
Brady có phong thái của một cầu thủ lớn, có tầm nhìn và chơi rất tự tin. Những bước chạy của ông xé nát hàng phòng ngự đối phương để các tiền đạo khác như Malcolm MacDonald, Frank Stapleton hoặc Alan Sunderland lập công. Những bàn thắng của Brady đa phần là ngoạn mục và một trong số đó là bàn thắng vào lưới Tottenham năm 1978. Đó là một cú sút cầu vồng từ ngoài khu cấm địa ấn định tỷ só 5 – 0 cho Arsenal khi Giáng Sinh chỉ còn có 2 ngày nữa. Một món quà Noel tuyệt vời cho các CĐV Arsenal (vì Tottenham là đối thủ không đội trời chung của Arsenal).
Bạn có thể thắc mắc rằng thành tích 43 bàn thắng trong 227 trận cho Arsenal sau 7 mùa liên tiếp của Brady không có gì ghê gớm cả. Nhưng những bàn thắng của Brady đều rất quan trọng, hơn nữa ông là mẫu cầu thủ kiến tạo hơn là săn bàn. Trong trận chung kết Cúp FA năm 1979 với M.U, sau khi bị dẫn trước 2 bàn Brady đã dốc bóng bên cánh trái chuyền cho Alan Sunderland ghi bàn, tạo điều kiện cho Arsenal lật ngược thế cờ thắng 3 – 2. Sau năm đó Brady được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải.
Brady chơi trận đầu tiên cho Arsenal vào ngày 6/10/1973 (gặp Birmingham) và trận cuối cùng 7 năm sau (trong trận gặp Middlesbrough). Tháng 8/1980, Brady lên đường sang Italia chơi cho Juventus với giá chuyển nhượng 500.000 bảng (một số tiền khá lớn thời đó, khi kỷ lục chuyển nhượng cũng chỉ 1 triệu bảng). Cùng Juventus ông đã đoạt 2 chức vô địch Serie A năm 1981 và 1982. Những năm sau Brady còn chơi cho các CLB Sampdoria, Inter Milan và Ascoli trước khi trở về Anh tháng 3/1987 để chơi cho Westham.
Sau khi treo giày, Brady trở thành HLV của Celtic và CLB hạng hai Brighton. Hiện nay, ông đang dẫn dắt lứa cầu thủ trẻ của Arsenal và đoạt được nhiều danh hiệu quan trọng.
cafesua47
04-05-2008, 10:34 PM
Hong có Henry hỉ? hic em thấy Henry cũng hay vậy, cũng xứng đáng là huyền thoại
phuckoj
26-05-2008, 08:22 PM
đúng là ông này biết nhiều tin tức thiệt
kdvn2390
01-06-2008, 07:42 PM
Tôi nghĩ nên cho Titi vào ngôi nhà vĩ đại của asn đê.
1Tay săn bàn kĩ thuật và lạnh lùng
2Đội trưởng tài ba
3 Cống hiến có CLB hay ĐT
4 Khát khao chiến thắng,lối đá đẹp
5 .Fan ruột của tui
^^
cau be vang
03-06-2008, 02:49 PM
Henrri là thần tượng của chúng ta vậy mà không được vô là sao không hiểu?
arsenalthu
03-06-2008, 05:39 PM
sẽ ko lâu danh sách này sẽ có tên Theiry Henry thôi
danh thủ ars nhiều quá nhưng do sinh sau đẻ muộn nên chỉ biét được vài người, cố lắm cũng chẳng thể đọc hết, thôi thì biết tên là được rồi
ASERNAL_BN
05-06-2008, 10:51 AM
phải cảm ơn người viết bài này!! tâm phục khẩu phuc.!!^_^
anh em ơi!sao không thấy nhắc đến Henry vậy?anh ấy cũng phải được gọi la huyền thoại chứ
01234460682
13-06-2008, 10:06 AM
http://i167.photobucket.com/albums/u138/duchoan87d/arsenal-fabregas-0607-l.jpg
http://a.bebo.com/app-image/6391631936/i.idlestudios.com/img/q/u/08/04/07/Cesc-Fabregas-Arsenal_.jpg
Số 4 : Tiền vệ Francesc Fabregas
Sinh ngày : 4\5\1987
Quốc tịch : Tây Ban Nha
Fabergas đang thi đâu rất thành công! Đây là 1 cầu thủ trẻ chơi bóng rất kĩ thuật với những cú chuyền bóng hoàn hảo nhất! cũng là cầu thủ trụ cột của Arsenal!
I Like Arsenal and MU
18-06-2008, 10:49 AM
Anh hiểu bik rộng wa':021_002::021_002:. Nhưng sao ko c0á Henry va` Fabregas vào thjá anh ??? Em thấy họ c0á tài mà cg~ đóng góp cho Ars nhìu mà .
ozuman
04-07-2008, 06:15 PM
bài này quá hay!!!Rõ ràng Henry chưa thể sánh ngang các huyền thoại ở đây được.
le bang giang
05-07-2008, 10:16 AM
huyền thoại hiển nhiên là TiTi rồi nhưng chúng ta chỉ chúc cho anh ta thi đấu tốt thôi arsenal cần sự trẻ trung hơn. Tôi ưu tiên cho các tài năng trẻ
ngoc tien_32
08-07-2008, 03:50 PM
huyền thoại của ARSENAL đương nhiên phải là HENRY rồi
ngocquytcb
16-08-2008, 04:28 PM
Trong huyền thoại Arsenal đó chính là Thierry Henry
Tôi chỉ nó về sự nghiệp ở Arsenal
tháng Tám 1999 tới Arsenal với giá chuyển nhượng £10.5 triệu bảng Anh, một lần nưa thi đấu dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên Arsène Wenger.[3] Với vị trí là cầu thủ thay thế cho Nicolas Anelka, Henry được Wenger xếp ngay vào vị trí tiền đạo, một quyết định mà sau này đã giúp Henry tiến bộ nhiều và khá thành công trong một quãng thời gian. Trong thời gian đầu, nhiều người đã nhận thấy Henry chỉ biết chạy và chạy, còn kỹ năng xử lý bóng và quan sát đồng đội khá kém . Tuy vậy Wenger đã rất khôn ngoan khi tạo mọi điều kiện cho Henry tiến bộ, mặc dù Henry không thể ghi nổi bàn thắng trong suốt mười trận đấu đầu tiên của mùa giải[2] .
Nhưng không lâu sau đó, với sự hỗ trợ cật lực của Huấn luyện viên, các cầu thủ Pháp khác ở Arsenal, và nhất là 2 cầu thủ Hà Lan cực giỏi và giàu tinh thần đồng đội là Berkamp và Overmars, anh đã được thi đấu hơn 60 trận và kết thúc mùa giải đàu tiên tại Arsenal với 26 bàn thắng[4]
Mùa hè sau đó, Henry đứng trong hàng ngũ đội tuyển Pháp tham dự Euro 2000. Anh ghi được ba bàn thắng, trong đó có bàn quan trọng gỡ hòa trong trận đấu vói Bồ Đào Nha trong trận bán kết. Henry là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất, ngang với 1 cầu thủ khác trong đội, cho Pháp trong Euro 2000.[5] Pháp sau đó đã thắng hiệp phụ nhờ bàn thắng penalty của Zinedine Zidane. Pháp tiến vào trận chung kết và thắng Ý sau hiệp phụ, và Henry nhận huy chương quốc tế quan trọng thứ hai trong sự nghiệp của mình- huy chương vàng Euro.[6]
Mùa giải thứ hai ỏ Arsenal là mùa giải thành công lớn nhất đối với Henry khi anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho câu lạc bộ, với sự hỗ trợ tận tình của cả đội như đã nói ở trên. Trong mùa giải 2001-2002 này, Henry thi đấu 64 trận, ghi được 32 bàn thắng tính trên tất cả các giải đấu, anh đưa Arsenal double and his first silverware with the club Mặc dù sự nghiệp thi đấu quốc tế tạo nhiều thất vọng (hiệu suất khoảng 6 trận/bàn với vị trí tiền đạo), trong mùa giải 2002-2003 Henry thi đáu rất hiệu quả, vói 42 bàn thắng tính trên tất cả các giải đấu (kể cả đội tuyển quốc gia, cúp quốc gia, cúp C1,... ) , ngoài ra anh còn có công đóng góp cho Arsenal 23 bàn thắng ở giải Ngoại hạng Anh. Mùa đó, Arsenal rất mạnh và Henry cũng đang trên đà cải thiện, đã đưa đến cho Arsenal một chiếc Cúp Vô đich FA.[8] Mùa hè năm sau đó, anh quay trở lại trong hàng ngũ đội tuyển Pháp tham dự Confederations Cup 2003, một đội hình không có Zidane và Patrick Vieira và đã giúp đội tuyển dành chiến thắng. Đây có lẽ là thời kỳ phong độ cao nhất của Henry, sau khi đã được Wenger giúp mài dũa rất nhiều ở Arsenal. Trong trận chung kết, Henry ghi bàn thắng vàng trong hiệp phụ, gíup đội chủ nhà vượt qua Cameroon với tỉ số 1-0. Với bốn bàn thắng, anh là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải đấu này.
Tuy vậy kể từ thời điểm này trở đi, các cầu thủ Hà Lan đã rời khỏi Arsenal, các tiền vệ Pháp cũng rời khỏi đội hoặc chấn thương, trong khi các cầu thủ mới khác như Adebayor,Fàbregas, Silva, Reyes, Persie... lại không ủng hộ lối chơi cá nhân và hiệu suất tung sút của Henry. Và kết quả tất yếu là anh càng ngày càng giảm số bàn thắng ghi được, mặc dù Arsenal vẫn tham dự giải Anh đến 38 trận Ngoại hạng và 2 giải Cúp trong nước, cũng như 1 vài giải cúp quốc tế khác.
Đến cuối 2006 thì Henry thi đấu ở Arsenal cũng chẳng khác gì với lúc anh thi đấu ở tuyển quốc gia. Wenger rất cố gắng động viên, chỉ đạo chiến lược cho Henry và Arsenal nhưng cuối cùng ông cũng chấp nhận rằng thực lực của Henry đã đến giới hạn, trong khi sự hỗ trợ của đồng đội đã không thể nào bằng được như thời hàng công Arsenal.
huy tap tvptcn
25-08-2008, 10:44 AM
mình nghĩ rằng năm nay arsenal sẽ vô định. Mặc du không có nhiều ngôi sao lớn trong đội hình
shine
26-08-2008, 07:38 PM
tất cả và tất cả chúng ta chỉ hướng về as thôi!as cố lên
HaiRua_KuTe0
12-09-2008, 01:00 PM
Tôi xem ARS từ khi họ vô địch giải Ngoại hạng năm 2004. Với bộ đôi tiền đạo là HENRY và Denis Bergkamp, cặo tiền vệ trung tâm là GirlSilva và Veira. Tôi thấy họ có một lối đá cuốn hút, làm say mê của NHM môn thể thao vua này, một lối đá đẹp. Mặc dù những năm gần đây ARS không dành được một danh hiệu nào nhưng tôi vẫn rất yêu đội bóng này và tôi mong năm nay ARS sẽ vô địch cả Champion Ship và Champion Leguae
Ricardo-KaKa
12-09-2008, 01:12 PM
Năm nay tôi ko dám tin ARS sẽ vô địch nhưng tôi luôn hy vọng ARS sẽ thi đấu thật tốt để canh tranh với MU Chelsea và Liverpool.
badb0y_wantl0v3
15-10-2008, 09:07 PM
năm nay tôi cũng ko dám tin chắc là ARSENAL sẽ vô địch Giải ngoại hạng. nhung hi vọng CLB sẽ thành công tại đấu trường C1
choilathang
17-10-2008, 11:02 PM
Hi vọng Arsenal sẽ thi đấu tốt ở 2 mặt trận PL và Champions Leage
d3tjnhy3uh4t_h9
21-10-2008, 09:02 PM
minh muon' asenal mua them tjen` dao. hay nhu the' arsenal moj' thanh` cong o? moj mat. chan. dc.hang` tjen` ve. va` hau. ve. thj` tuyet. voj` ruj`.vj` Fabregas,Wallcott da' qua' hay
quangxuong3
25-10-2008, 03:20 PM
tôi muôn biêt câu lạc bộ Arsenal co nguồn tài chinh bằng MU ko
quangxuong3
25-10-2008, 03:29 PM
Arsenal là một trong những câu lạc bộ danh tiếng của anh ,Đội bóng Arsenal đã đóng góp 1 phần ko nhỏ cho bảng thành tích các câu lạc bộ anh đi thi đấu nước ngoài
vBulletin® v3.7.0, Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.